Tản văn về đạo 2.

By Phan Đình Phùng

 

 

 alt

 

 

      ĐOÁ HUỆ TRINH 

1. Hai chị em vừa đi vừa nói chuyện nên đã đến giếng đầu làng lúc nào không hay. Chị Cléopas chưa múc nước vội chị nhìn Maria hãnh diện vì mình có một cô em xinh như thế! Bỗng như phát hiện một điều gì lạ thường chị hỏi nhỏ như chỉ để Maria nghe:

      - Có phải em đang mang thai không? Chị thấy em đẹp hẳn lên đầy đặn hơn. Sao? Giuse biết chưa?

      Maria cúi đầu duyên dáng khả ái nơi cô toát ra sự thanh khiết mà Thiên Chúa phú ban cho nàng. Cô em nói nhỏ với chị:

      - Em chưa nói gì với Giuse! Chiều qua anh ấy đến nhà ở chơi khá lâu… Khi anh về em tiễn ra cổng anh không nói gì; rồi anh đi nhanh như chạy không quay lại nhìn vào mắt em như mọi khi. Anh ấy vốn ít nói bây giờ anh lại trở nên trầm lắng hơn! Phần em em không biết làm sao để tỏ bày điều bí nhiệm THIÊN CHÚA đã ban cho em… Em chỉ biết cầu xin Thiên Chúa biểu lộ chương trình của Người vì “không có gì mà Thiên Chúa không thể làm được!” (Lc1 37).

      Chị  Cléopas không hiểu điều em mình nói chỉ biết yên lặng lắng nghe em linh cảm Thiên Chúa đang thực hiện điều gì đó thì cô không khả đạt cô sửa soạn lại giây gàu để lấy nước…hai chị em vui vẻ lấy nước cho nhau rồi cùng về…

2. Trằn trọc suốt đêm! Lòng nặng trĩu Giuse không thể hiểu điều gì đã xảy ra với Maria hôn thê yêu quý của chàng cô gái mỹ miều đã thành hôn với chàng… Vì ngay trong ngày đính hôn cả hai đã cầu nguyện đã cùng nguyện thề giữ sự thanh khiết toàn vẹn như Đoá Huệ đẹp nhất để hiến dâng cho Đấng Đáng Chúc Tụng. Sao bây giờ chỉ mấy tháng xa nhà? Mà thật lạ! Nàng vẫn thanh thoát đôi mắt trong sáng thánh thiện không thấy dấu gì nơi cô ta vương nhiễm tục lụy trừ cái ngoại hình của cô ta! Chà lại còn… Thỉnh thoảng cô ta nhẹ đặt tay lên bụng khép đôi mi như cầu nguyện như tỏ lòng âu yếm đối với thai… Không thể hiểu! Chàng đặt nhiều giả thuyết để có thể làm sáng tỏ: Hay ta đến gặp cha mẹ nàng? Gặp nàng? Viết cho nàng một lá thư? Nàng có biết rằng ta chỉ cần nói ra(!)… là nàng sẽ bị lôi kéo đi bị ném đá cho đến chết một cái chết tức tưởi và nhục nhã? Không! Không! Không phải như vậy! Ai cứu tôi? Ai trả lời tôi? Hay ta âm thầm ra đi? Đi thật xa! Còn nếu ta đưa nàng về thì ta đâu có trách nhiệm gì đối với cái thai nàng đang mang? Thai không phải của ta. Ta không thể! Ta nên âm thầm ra đi “dĩ đào vi thượng sách” vậy! Mọi ý nghĩ xô đẩy đảo lộn… Cuối cùng Giuse nguyện cầu trong vực thẳm của nỗi đau chưa có lối thoát và chàng thiếp đi.

3.     Vầng sáng tràn ngập cả căn phòng phủ lấy Giuse. Có tiếng phán từ ánh sáng đó… Giuse trở mình giơ tay che đôi mắt: “Nầy Giuse con cháu Đavít đừng ngại đón Maria vợ ông về vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai và ông sẽ đặt tên cho Con Trẻ là GIÊSU” (Mt 1 20-22). Tiếng phán rõ ràng uy nghiêm Giuse không để rơi một từ nào! Một cuộc thần hiện chăng? Giuse đưa tay dụi mắt xem thực hay mơ? Bây giờ anh lại rơi vào một thắc mắc khác: Có nên tin vào giấc mơ  không? Đó là thánh ý Thiên Chúa soi tỏ cho ta chăng?  Giuse cố lục lại trong tâm trí xem Đấng Tổ Phụ nào được Thiên Chúa tỏ mình qua việc báo mộng!?! Dần dần Giuse lấy lại được an tĩnh chàng mỉm cười nhanh chóng chỗi dậy đứng lên đưa tay mở cánh cửa cho ánh sáng bình minh tràn vào phòng rồi sửa soạn thật nhanh chạy mau ra vườn hái ít hoa tay cầm món quà gì đó rồi đi thẳng đến nhà nhạc gia đến nhà vị hôn thê:

      Maria!  Maria! - Giuse lên tiếng gọi. Chẳng đợi Maria trả lời chàng đã xuất hiện nơi cửa thân thương lẫn hồi hộp Giuse nói với Maria: 

      - Anh đến xin cha mẹ cho anh đón em về.

      Rồi Giuse trao vào tay Maria mấy cánh hoa còn long lanh sương sớm và món quà:

      - Đây chiếc khăn tặng em em quàng lên khi bà con đến rước dâu. Chiếc khăn thêu cánh huệ  em thích và anh cũng rất thích

      Maria nhìn vị hôn phu trìu mến tin tưởng. Tự đáy lòng Maria dâng lên niềm cảm mến trước huyền nhiệm sâu thẳm mà Thiên Chúa đã tỏ bày. Nàng lên tiếng hỏi:

- Khi nào thì rước dâu anh?

      Chàng trả lời liền:

      - Ngay hôm nay!

      Cả  hai thinh lặng cảm nhận sâu xa đặc ân cao cả Thiên Chúa ban cho Nhà Israel.

      Đêm ấy người ta thấy trên bầu trời Nadarét một vùng sáng lung linh huyền ảo   các vì sao nhảy múa còn tại nhà cô Maria các thiếu nữ xinh đẹp xúng xính bên cô dâu họ vui vẻ hân hoan đợi chàng rể Giuse đến: “Sơn hà nở rộ hoa tươi và mùa ca hát vang trời về đây tiếng chim gáy văng vẳng trên khắp đồng quê ta.” 

 

 

 

 

    HOA HUỆ THỨC GIẤC

    Đêm qua tôi nằm mơ. Một cơn mơ nhẹ nhàng và êm ái. Cơn mơ đi qua để lại trong tôi một niềm thành kính. Trong giấc mơ tôi gặp một cụ già chống gậy Ngài bước đến và tặng tôi bông hoa màu trắng tinh tuyền. Dung nhan Ngài không như những ảnh tượng mà tôi đã từng chiêm ngưỡng và cũng chẳng giống những gì có trong trí tưởng tượng của tôi…

    Trước cửa một gia đình trong khu tập thể công nhân nghèo có mảnh vườn nhỏ luôn ngập tràn sắc trắng nhẹ nhàng quyện lẫn mùi hương thanh khiết. Những nụ cười hạnh phúc luôn ngập tràn trong ngôi nhà nhỏ ấy. Mặt trời rực sáng phía chân trời rọi xuống bậc thềm nơi hai vợ chồng đang ngồi đón bình minh  và ngắm những bông huệ khẽ vươn lên sau một đêm dài.

  • Hai tháng nữa sinh con anh sẽ đặt tên con là gì?
  • Ừ nhỉ! Anh nghĩ nếu sinh con gái mình sẽ đặt tên là Huệ còn nếu sinh con trai mình sẽ đặt tên là Khiết…

    Một nụ cười nở rạng rỡ trên khuôn mặt người phụ nữ với đôi má ửng hồng tựa vầng dương vừa thức giấc và làn da trắng mịn như cánh huệ đang bung mình trong ánh bình minh. Người đàn ông đưa cánh tay của mình đặt lên vai người phụ nữ anh ghì sát vợ vào lòng nhẹ nhàng hôn lên má một nụ hôn nồng ấm.

  • Em cứ vào giường nằm nghỉ để anh đi xếp hàng!
  • Vâng anh đi nhanh rồi về với em nhé!

    Chiếc xe đạp Phượng Hoàng lao vút vào con phố nhỏ. Hôm nay là ngày nghỉ cảnh người xếp hàng chen lấn nhau trước cửa hàng bách hóa cứ đông như trẩy hội.

    Khi mặt trời lên đến đỉnh đầu tiếng xe lóc cóc mới về đến sân cánh cửa khép hờ nửa đóng nửa mở trong nhà không có lấy một tiếng động nhỏ. Như có linh cảm về điều chẳng lành sắp đến người đàn ông lao vụt vào nhà bỏ mặc chiếc xe đạp từ từ đổ xuống sân làm mấy bìa đậu vỡ tung tóe. Người phụ nữ đang nằm bất động trên sàn nhà giữa một vũng máu đỏ ngầu lênh láng…

  • Chỉ có thể cứu một trong hai!
  • Khô…ông… thể cứu cả hai mẹ con sao bác sĩ?
  • Xin lỗi!  Chúng tôi đã làm hết sức! Anh hãy quyết định ngay đi!

    Những giọt nước lặng lẽ rơi trên khuôn mặt khắc khổ  của người đàn ông. Ông không nói gì mà đi vào một góc khuất của bệnh viện…

    Ngày tôi sinh là một ngày như vậy đấy một ngày  định mệnh đối với cha tôi vừa chào đón một người thân nhưng cũng lại phải vĩnh biệt một người thân.

    …Hôm nay là Chúa Nhật thứ ba mùa Phục Sinh tôi đem chiếc xe đạp cũ ra để kiểm tra và lau chùi. Tôi ngắm thật kỹ tất cả những chi tiết của chiếc xe đã đi cùng cha tôi suốt cả cuộc đời để nuôi tôi khôn lớn tối nay tôi sẽ đi dâng lễ trên chính chiếc xe đạp giữ đầy kỉ niệm buồn vui này. Tôi đang tra dầu vào xích thì có một người đàn ông lai một đứa trẻ chừng mười ba mười bốn tuổi trên chiếc xe Phượng Hoàng dừng trước cửa phòng khách.

  • Mời bác uống nước!
  • Vâng! Con cám ơn Cha! Hôm nay con đến đây để xin dâng hiến cho Chúa đứa con trai duy nhất của con. Xin Cha dạy bảo cháu giúp con.
  • Thật tuyệt! Tôi luôn sẵn sàng đón nhận vì đây là trách nhiệm của tôi. Thế mẹ cháu đâu mà không đến cùng?
  • Thưa Cha! Mẹ cháu đã mất khi sinh cháu...!

       Những giọt nước khẽ rơi trên khuôn mặt khắc khổ  của người đàn ông. Tôi lặng đi cổ họng như cứng đơ lại khiến tôi không nói nên lời có một cái gì đó đang bóp chặt trái tim tôi. Tôi khẽ đưa mắt lên nhìn một đứa trẻ có đôi mắt trong veo thân hình mảnh khảnh yếu đuối. Trong miền kí ức xa xăm những hình ảnh của tôi hai mươi sáu năm về trước như đang hiện ra trước mắt.

      …Trong giấc mơ đêm qua tôi đã gặp cha. Cha tôi  đã tặng tôi bông hoa màu trắng tinh tuyền. Ngoài vườn những bông huệ đang bung mình để đón ánh nắng sau một đêm dài.

 

 

 

 

 

     Chuyện của hai người 

     Vào năm thứ hai đại học chúng tôi quen nhau trong một lần trường tổ chức đi dã ngoại. Em học khoa Văn dưới tôi một lớp. Tôi một chàng trai khoa Toán cũng thuộc vào loại “điển trai” trong lớp lại thêm cái mác “lớp trưởng” nên quanh tôi những “vệ tinh” không phải là thiếu. Nhà tôi nghèo lại ở xa thành phố. Ngày tôi lên trường nhập học mẹ tiễn tôi ra tận bến đò. Mẹ bảo: “Gắng mà học cho giỏi để đổi đời con ạ. Bố mẹ chỉ có mình con lên thành phố phải gắng mà giữ mình chứ trên đó nhiều “cạm bẫy” lắm đấy!” Nói xong mẹ giúi một vật gì đó vào túi áo tôi rồi vội vàng quay đi giấu những giọt nước đang từ khóe mắt trào ra. Lên tới thành phố tôi mới mở gói giấy đó ra xem thì ra đó là tấm ảnh ông Thánh Giuse với gương mặt hiền lành và nhân từ. Một tay Ngài bế Chúa Hài Đồng còn tay kia cầm một cành huệ trắng tinh. Bên dưới tấm ảnh có dòng chữ: “Hãy đến cùng Giuse”. Tôi ngắm nhìn bức ảnh hồi lâu và chợt nhận ra rằng đây chính là thông điệp mà mẹ tôi muốn nhắn gửi…

     Sau những ngày đầu bỡ ngỡ tôi nhanh chóng hòa nhập với cuộc sống chốn thị thành. Những lo toan của cuộc sống học hành thi cử cứ cuốn tôi vào vòng xoáy của cuộc đời lúc nào tôi không hay biết. Những lá thư tôi viết về thăm nhà cứ thưa dần rồi gần như mất hẳn…

     Thế  rồi tôi quen em và chúng tôi đến với nhau. Em là một tiểu thư con nhà giàu trẻ trung xinh đẹp và thực dụng. Gia đình chỉ có một cô con gái nên tất cả đều tập trung đầu tư cho em. Mới là sinh viên mà em chẳng thiếu gì: Từ xe tay ga điện thoại di động đời mới đến quần áo hàng hiệu… Toàn là những thứ đắt tiền! Có lần em bảo:

     - Yêu ai thì yêu cho hết mình đến khi không thích nữa thì “say goodbye”; kiểu như lời trong bài “Hát với dòng sông” của nhạc sĩ Quốc An: “Tình yêu đến em không mong đợi gì tình yêu đi em không hề nuối tiếc…”

       Nghe em nói tôi thấy sởn da gà. Không hiểu sao những lời như thế lại có thể thốt ra từ cặp môi của một người như em chứ?! Thế mà chúng tôi lại yêu nhau yêu nhau say đắm nữa là khác. Tuy nhiên cả tôi và em đều đoan hứa sẽ không vượt quá giới hạn trong tình yêu cho đến khi là của nhau thực sự.

     Rồi một lần sinh nhật em em mời tất cả những bạn học cùng lớp. Tôi với tư cánh là “người nhà” đã chứng minh cho mọi người thấy sự đảm đang tháo vát và một chút ga-lăng của một chàng sinh viên năm cuối. Em xinh tươi trong bộ váy mới bố mẹ tặng nhân ngày sinh nhật của cô con gái “rượu”. Tiệc tan mọi người ra về. Trong căn phòng trọ chỉ còn lại tôi và em. Có lẽ trong bữa tiệc em đã uống rượu nên người em thoang thoảng hơi men. Hồi đầu mới yêu nhau em bảo em không biết uống rượu và cũng không thích những người uống rượu. Nhưng có lẽ hôm nay vui quá nên em “phá lệ” chăng?!

     Trời  đã về khuya ngoài trời lất phất mấy hạt mưa. Không khí có vẻ lạnh tôi chợt nhớ ra rằng mới lập đông được mấy hôm. Khu nhà trọ đã đóng cửa im lìm. Xa xa vẳng lại mấy tiếng chó sủa làm phá tan màn đêm yên tĩnh. Mọi sự đã được dọn dẹp sạch sẽ ngăn nắp tôi lúng túng chẳng biết làm gì nữa định bụng xin phép ra về. Nơi tôi ở trọ cách xa chỗ em ở. Nếu có “cuốc” xe đạp về cũng phải mất ba mươi phút đồng hồ.

     Hay là… mình ngủ lại  đây một đêm?! Em ở  một mình vả lại hàng xóm mọi người đều đã ngủ cả… Không được nhỡ ai thấy thì  sao? Có sao đâu! Sinh viên bây giờ  đầy cặp thuê phòng “góp gạo thổi cơm chung”  sống với nhau như vợ  chồng có khi lại còn là “mốt” thời thượng nữa ấy chứ mình ở lại một đêm có là gì!? Mà hình như em say mất rồi. Có lẽ đêm nay em cần đến mình. Mình về lúc này nhỡ có xảy ra chuyện gì với em thì mình biết ăn nói ra sao?...

     Những ý nghĩ miên man cứ dồn dập đến trong tâm trí tôi. Tôi đang băn khoăn không biết chọn cách giải quyết nào thì bỗng nhận thấy một đôi bàn tay trắng nõn nà đang nhẹ nhàng mơn trớn đôi vai tôi. Tôi nhận ra mùi nước hoa quen thuộc dường như đang ở sát bên tai. Tôi chưa kịp phản ứng gì thì đôi bàn tay đó đã xoay người tôi lại. Em nói trong hơi thở gấp gáp: “Anh anh hãy làm gì đi chứ!?” Tôi như người chết đứng. Lúc này tôi mới nhận ra rằng em thật đẹp. Chiếc váy mới ôm sát lấy thân hình thon thả của em… Tất cả đều lên tiếng mời mọc! Người tôi cứ nóng dần lên. Thằng đàn ông trong tôi bỗng đâu chỗi dậy. Phải làm gì bây giờ ? Thôi kệ cứ thử một lần xem sao! Không được không thể như thế được! Rồi chẳng biết động lực nào tôi đẩy người em ra và chạy ào ra cửa. Tôi lập cập dắt chiếc xe đạp “cà tàng” của mình đi nhanh ra ngõ. Tôi còn nghe như tiếng nấc nghẹn ngào của em. Em nói trong nước mắt “Anh tệ lắm!” rồi lao vào giường khóc nức nở…

     Tôi cứ mải miết đạp xe như người mộng du. Vâng có lẽ tôi “tệ” thật! Đối với trào lưu xã hội hôm nay tôi thực sự là một thằng “khờ”. Nhưng không hiểu sao tôi lại cảm thấy lòng thanh thản. Tôi vừa vượt qua một cơn thử thách. Lần đầu tiên kể từ ngày yêu em tôi đã làm cho em phải khóc. Tôi có lỗi chăng ? Không tôi đã làm đúng. Em cứ khóc đi khóc cho với đi nỗi tủi sầu. Tôi cũng muốn khóc lắm chứ. Làm người đàn ông đứng trước một người con gái xinh đẹp như em ai mà chẳng ước ao… Thế nhưng em có biết không anh muốn giữ mối tình của chúng mình thật đẹp thật trong sáng như lời chúng mình đã đoan hứa để những gì mình dành cho nhau trong ngày thành hôn được trọn vẹn. Có thể em sẽ giận tôi có thể sẽ từ mặt tôi vì lòng tự trọng của em đã bị xúc phạm. Không. Tôi tin ở em. Một người con gái thông minh và giàu nghị lực như em chắc sẽ hiểu và thông cảm cho cách xử sự của tôi. Và… và chúng mình sẽ lại đi bên nhau trên con đường quen thuộc giữa những luống huệ đang mùa đơm hoa. Em còn nhớ không có lần em bảo em thích nhất loài hoa này vì hoa huệ là biểu tượng của sự trinh trắng mà! 

     

 

 

 

 

      TƯỢNG ĐÁ THÁNH GIUSE 

      Thân phận tôi là đá. Trước đây tôi chỉ là  một tảng đá xấu xí không ra hình dạng nào ngày ngày nằm nắng phơi mưa giữa trời không chốn dung thân. Sau đó tôi được người ta đem về và  đục đẽo tôi trở thành tượng Thánh Giuse thật hoàn hảo. Nhờ sự suy tư rất sâu sắc cùng với  bàn tay khéo léo của nghệ nhân đã tạo cho tôi một hình ảnh Thánh Giuse thật trẻ trung với thân hình vạm vỡ đầy sức sống khuôn mặt khôi ngô sáng suốt nhưng thật khiêm tốn tay Ngài đang ẵm trẻ Giêsu và tay kia cầm nhành Huệ trắng để tượng trưng cho sự trinh khiết của Ngài. Từ ngày tôi được làm phép và đặt trên cung thánh trong ngôi thánh đường tôi đã có chỗ trú thân và không sợ mưa nắng nữa. Tôi luôn được nghe tiếng nguyện lời kinh được chứng kiến biết bao  cuộc đời đau khổ buồn phiền cũng như niềm vui và lòng biết ơn của mọi người khi đến với Thánh Giuse. Tôi rất sung sướng và hạnh phúc khi tôi là hình tượng giúp tâm hồn họ hướng về vị Thánh Giuse quyền uy đang ở trước tôn nhan Thiên Chúa ngày đêm Ngài cầu thay nguyện giúp cho họ và để họ vượt qua mọi khó khăn ở chốn gian trần như khi xưa Ngài đã từng cảm nếm.

      Vào một buổi chiều thật buồn bã một cô gái tuổi đôi mươi đã đến bên tôi và tâm sự:

“Gối uốn tay vòng trước tượng Cha

Hương trinh huệ trắng ngát thơm nhà.

Thân gầy mảnh khảnh mang thai nhỏ

Trí rối hoang mang đứng ngã ba.

Cuộc sống nhiều khi đầy sóng gió

Đời người lắm lúc chẳng yên gia.

Xin ơn Thánh Cả  ơn vui sống

Hát hát ca ca hát hát ca

      Tên con là Huệ tên của một loài hoa mang màu trắng tinh tuyền loài hoa mà Cha đang có trên tay với biết bao ý nghĩa: Sự trong sạch thanh cao sự  thanh khiết sự trở về của hạnh phúc và chan chứa của tình yêu. Con đến với Cha đây do một người bạn gái đã chia sẻ tâm sự và khuyên con hãy tới cầu xin với Thánh Cả Giuse khi gặp thử thách. Cô ấy tên Trinh và là người bạn gái thân thiết của con cô rất ngoan đạo được giáo dục trong gia đình công giáo dù nhà nghèo nhưng vẫn luôn vui sống và yêu đời. Cô nói rằng là cô luôn noi gương Thánh Giuse về sự khó nghèo hiền lành và đặc biệt là đức khiết tịnh. Về phần con là một người ngoại đạo con rất được cưng chiều vì là con một trong nhà. Gia đình con giàu có và không thiếu thốn gì vật chất nhưng con luôn cảm thấy tâm hồn sao mà trống rỗng thiếu mất cái gì đó rất quí báu. Và không gì khác đó chính là tình yêu sự cảm thông chia sẻ của cha mẹ con. Họ nghĩ cứ cho con thật nhiều tiền và đáp ứng mọi nhu cầu vật chất thì con sẽ hạnh phúc họ cứ lao vào xã hội mà kiếm thêm thật và thật nhiều tiền nhưng không đoái hoài gì đến điều con thật sự đang cần thiết! Thế là để bù đắp vào khoảng trống đó con đã tìm cho con một người bạn trai và nghĩ rằng đó là nơi con có thể yêu và được yêu. Con yêu anh ấy thật lòng và con đã trao cái gì là quí giá nhất của đời con gái cho anh nhưng con lại gặt được nỗi đắng cay thất vọng thật xót xa. Con đã có thai và anh ta đã bắt phá cái thai vô tội này đứa nhỏ trong bụng đang hiện diện trước mặt Cha đây… Anh nói rằng bữa nay chuyện phá thai rất dễ dàng và đầy dẫy ngoài xã hội tội gì mang cho cực khi ta còn quá trẻ. Ôi con đã lầm!!! Thật là ghê tởm khi anh ta nói điều đó. Anh đã bỏ con. Bây giờ đây con rất cô đơn và đau khổ con thực sự đang đứng giữa ngã ba đường để chọn lựa cho tương lai của mình. Nhưng lạy Cha con tin rằng Cha sẽ giúp con vượt qua nỗi đau khổ này mà vui sống. Con biết sự trinh trắng của hoa huệ không còn trong con nữa nhưng con cần đến sự khôn ngoan của nó như nó đã khôn ngoan ngoi lên khỏi bùn và vươn lên thật cao tránh mọi vết nhơ. Bây giờ con quyết giữ cái thai này sẽ cố gắng vươn lên sống tốt chăm sóc và yêu thương. Đây cũng là lời khuyên của Trinh bạn con. Điều quan trọng là con muốn nói với những bậc cha mẹ hãy yêu thương và quan tâm gần gũi con cái hơn. Những người trẻ đang yêu nhau hãy quí trọng nhau gìn giữ sự trinh tiết và có trách nhiệm cùng nhau…”

      Thế là ba năm đã bặt đi Huệ trở lại với đứa con trai dễ thương và người chồng mới cưới cùng theo sau là cô bạn Trinh tay mang bó huệ thơm ngát của lòng biết ơn Thánh Giuse. Một điều bất ngờ đó là Huệ đã theo đạo với người chồng công giáo anh là bạn của Trinh. Huệ yêu anh anh cũng rất yêu Huệ và nhận đứa bé như con ruột của mình.

      Còn biết bao nhiêu câu chuyện mà tôi đã được chứng kiến. Tôi xác tín điều này với lời cầu nguyện thành tâm và đầy lòng tin tưởng vào Thánh Giuse Đấng rất có quyền uy công đức vô bờ trước mặt Thiên Chúa sẽ cầu bầu cho mọi người được ơn như ý. 

 

 

 

 

 

            HỒNG ÂN 

    Trông thấy Hồng ông Phán liền quát:

    - Con kia! Đi đâu mà giờ này mới về hả?

    Giọng Hồng run run:

    - Thưa ba! Hôm nay xe của con bị hỏng nên con mới về trễ ạ!

    Nghe vậy ông Phán gắt lên:

    - Thôi đi! Tao quá biết rồi. Mẹ con mày lúc nào cũng tìm lý do để biện minh thôi.

     Hồng cúi đầu lặng lẽ bước vào nhà. Bà  Phán thấy con bị mắng oan liền nhẹ nhàng bảo:

    - Ông cứ hay nghi ngờ con cái. Tội nghiệp nó! Ông đừng la nó kẻo…

    Chưa nói dứt câu ông Phán đã lớn tiếng:

    - Bà bênh nó à? Đúng là mẹ nào con nấy mà lúc nào cũng leo lẻo cái miệng.

    Bà  Phán đành lủi thủi vào bếp lòng buồn lắm mà chẳng biết nói gì…

    Bữa cơm gia đình chiều hôm ấy thật tẻ nhạt ảm đạm. Bà bồi hồi nhớ lại mười năm trước ông Phán là người chồng mà bà luôn hãnh diện nể phục. Ngày ấy ông Phán là một người đàn ông khá điển trai và đạo đức. Ông làm nghề thợ mộc tuy không giàu có nhưng gia đình lúc nào cũng ấm cúng và hạnh phúc… Đang chìm trong suy tưởng bà bỗng giật mình vì tiếng ông Phán cáu gắt:

    - Trời ơi! Nhà này dư muối hay sao mà canh hôm nay mặn thế? Bà muốn giết tôi phải không?

    Tiếng la mắng của ông Phán đã đưa bà trở  về với thực tại. Đêm nay cả nhà lại không đọc kinh chung với nhau. Kể từ ngày rượu trở thành bạn tâm giao thì kinh kệ dường như đã trở nên xa lạ với ông nhiều khi ông còn bỏ cả lễ Chúa nhật. Bà Phán chỉ còn biết khóc và thầm thỉ với Chúa để xin Ngài đổi mới con người của ông. Mọi trách nhiệm mọi công việc ông Phán đều đùn đẩy cho vợ. Ngay cả việc chở Cu Tí đi học ông Phán cũng né tránh.

    Hôm nay đi lễ về Cu Tí reo lên:

    - Ba mẹ ơi! Ngày mai là ngày 1/5 lễ kính thánh Giuse Thợ con được cô và các bạn chúc mừng vì có ba làm nghề thợ mộc giống như Chúa Giêsu cũng có cha làm nghề thợ mộc vậy. Con vui lắm con cảm ơn ba!

    Nghe tiếng con trẻ  ông Phán không nói gì nhưng trong lòng ông dường như đang nghĩ ngợi điều gì đó... Và rồi ông quyết định đi xưng tội để ngày mai đi lễ cho cả nhà được vui.

    Chiều hôm sau cả nhà cùng nhau đi lễ thật sốt sắng. Bà Phán rất vui vì đã lâu rồi ông Phán mới cùng vợ con đi lễ như vậy. Trong bài giảng hôm ấy cha sở nhấn mạnh đến những phẩm chất đáng quý của Thánh Nhân: Chăm chỉ làm việc yêu thương vợ con nhất là chu toàn bổn phận làm chồng làm cha trong gia đình.

    Từ  lúc đi lễ về gương mặt ông Phán có  vẻ đăm chiêu đến nỗi nhiều lúc bà Phán hỏi gì  ông cũng không biết nữa. Ăn tối xong ông Phán đi nằm sớm nhưng ông không tài nào ngủ được. Những lời giảng của cha sở chiều nay cứ lởn vởn trong tâm trí ông. Những cảnh chửi mắng đánh đập vợ con cứ in sâu vào tận đáy lòng làm ông cứ trằn trọc mãi. Ông chợt thấy hối hận vì những lầm lỗi của mình và ông đã khóc... Những giọt nước mắt ân hận chảy dài trên hai gò má của một người đàn ông lầm lỗi.

    Sáng hôm sau ông thức dậy sớm và vui vẻ đưa Cu Tí  đi học. Bà Phán nhìn ông đầy kinh ngạc như  không tin vào những gì mình đã trông thấy nhưng rồi bà chợt nhận ra sự chân thành thể hiện trong đôi mắt của chồng. Bà thầm tạ ơn Thánh Giuse đã đoái thương nhậm lời cầu khẩn của bà nên ông Phán mới thay đổi như thế. Bữa trưa hôm ấy cả nhà có mặt đông đủ bên mâm cơm đạm bạc chợt ông Phán lên tiếng:

    - Tôi xin lỗi Mình và các con vì bấy lâu nay tôi đã sống tệ bạc quá sức. Tôi hứa từ nay sẽ là một người chồng tốt và một người cha có trách nhiệm với con cái.

    Một tràng pháo tay giòn giã thay cho lời chúc mừng. Bà  Phán chìm đắm trong những giọt nước mắt hạnh phúc. Ngoài trời mưa bắt đầu rơi những giọt mưa hòa tan với những giọt nước mắt của bà Phán như muốn cảm thông chia sẻ niềm vui và hạnh phúc của gia đình.  

     

 

 

 

 

     MẸ  TÔI

     Ngày còn bé tôi thường theo bà đi nhà thờ   đặc biệt là vào tháng dâng hoa kính Đức Mẹ. Quê  tôi ngày ấy không sầm uất như bây giờ. Làng tôi là làng toàn tòng Công giáo dân cư sống riêng ra một khoảnh cách đường quốc lộ khoảng mười lăm phút đi bộ. Ngôi nhà thờ quê tôi nằm ngay chính giữa làng mặt hướng về phía con đê chạy ngoằn nghoèo. Quê tôi vào tháng Hoa kính Đức Mẹ vui như ngày hội. Từ cả tháng trước bọn trẻ đã được các xơ tập dâng Hoa Năm Sắc. Người dân thường có thói quen mua hoa dâng kính Đức Mẹ. Mỗi lần theo bà đi lễ tôi thường được bà giao cho “trọng trách” ôm một bó hoa huệ to. Nghe đâu để có được những bông hoa huệ này bà tôi đã phải dành dụm từ những đồng tiền các con cho ăn quà hay phòng khi yêu đau bà uống thuốc. Nhưng việc mua hoa dâng Đức Mẹ đối với bà không đơn thuần chỉ là một thói quen mà còn là cái gì đó thiêng liêng lắm. Bà bảo hoa huệ tượng chưng cho sự khiết trinh có lẽ vì thế mà bà đặt tên cho mẹ tôi là Huệ.

     Nghe bà kể ngày còn con gái mẹ đẹp nổi tiếng trong làng. Mẹ còn là một ca viên xuất sắc trong giáo xứ nữa. Dù lao động vất vả suốt ngày dãi nắng dầm mưa nhưng nước da mẹ lúc nào cũng trắng hồng. Thêm vào đó mẹ còn có mái tóc  đen mượt và dài gần đến đầu gối. Nhiều người bảo mẹ có đôi mắt hiền và đẹp như Đức Mẹ Đồng Trinh. Chính vì thế mà ngày còn trẻ mẹ là niềm mơ ước của biết bao chàng trai trong và ngoài làng. Ban đầu đến với mẹ toàn là những chàng công tử con nhà giàu. Nhưng rồi mẹ nhận ra rằng họ đến không phải vì tình yêu chân thành mà chỉ vì những cảm xúc tầm thường; đơn giản là chỉ muốn chiếm đoạt! Mẹ đã phải vất vả lắm mới tránh được những cám dỗ mời mọc. Có những người xấu bụng sau khi không chinh phục được trái tim của mẹ đã quay ra tìm cách bôi nhọ danh tiết của mẹ. Lại nhớ lại chuyện bà Su-sa-na trong Cựu Ước bị hai lão già giở trò khi không làm gì được bà thì chúng quay ra tìm cách vu khống để làm hại bà. Nhưng rất may cho bà đã có cậu bé Đanien đứng ra bênh vực và vạch trần bộ mặt thật của hai lão già ấy. Còn mẹ thì gần như đơn thương độc mã bởi vì ngày ấy nhà bà ngoại nghèo lại không có thế giá gì nên chẳng ai đứng về phía mình cả. Nhiều lúc oan ức mẹ chỉ biết âm thầm chịu đựng những lời xì xào bàn tán thậm chí cả những lời thóa mạ từ miệng lưỡi người đời. Những lúc như thế bà và mẹ chỉ biết ôm nhau khóc và cùng hướng về bàn thờ Đức Mẹ nơi có những cành huệ trắng đang tỏa ngát hương thơm. Sau những lần ấy mẹ trở nên trầm lặng hơn…

     Thế  rồi một tình yêu chân thành cũng đến với mẹ. Người ấy là một thanh niên ở làng bên. Tình yêu của hai người cứ triển nở dần theo năm tháng một tình yêu chân thành không nhuốm mùi của nhục dục. Hai người đang say mê tận hưởng tình yêu đôi lứa thì người con trai ấy nhận được lệnh phải lên đường nhập ngũ. Hai bên gia đình tính làm đám cưới nhưng vì thời gian quá gấp gáp nên chẳng kịp chuẩn bị gì cả. Tình yêu của mẹ và người ấy cả làng trên xóm dưới đều biết mối tình của họ như đã được chứng thực tuy nhiên phép đạo chưa xong.

     Đêm chia tay của mẹ và người ấy thật cảm động. Dưới ánh trăng quê sáng vằng vặc bên tháp chuông giáo đường hai người trao cho nhau những tình cảm mặn nồng cùng những lời hứa sẽ trọn đời bên nhau rằng mẹ sẽ chung thủy chờ ngày người ấy trở về. Hứa thì hứa vậy chứ chiến tranh lúc bấy giờ đang đến hồi ác liệt ngày đi thì có ngày về thì chưa biết thế nào…

     - Hay là chúng mình có con với nhau Huệ nhé? - Người ấy ôm ghì mẹ vào lòng và nói trong hơi thở ấm áp.

     - Nhưng chúng mình đã làm phép cưới đâu! - Mẹ nhẹ nhàng đáp lại.

     - Cả làng đều biết chúng mình yêu nhau rồi còn gì! Mai anh lên đường rồi sau này về hợp thức hóa sau cũng được. Chiều anh một lần này thôi Huệ nhé! - Người ấy nói như van nài.

     Tim mẹ đập mỗi lúc một nhanh. Ừ! Hay là… Nhỡ anh ấy đi lần này không về nữa thì sao? Hơn nữa anh lại là con một trong gia đình. Nếu anh có mệnh hệ nào thì... Mẹ nghĩ mà cảm thấy xiêu lòng. Trong đầu mẹ hiện lên biết bao câu hỏi. Chẳng lẽ trao thân cho một người mình thực sự yêu thương lại là có tội? Nhưng nếu làm thế liệu…!!!

     Đêm mỗi lúc một khuya. Sương xuống mỗi lúc một dày làm ướt cả những chùm hoa mẫu đơn. Mẹ gục đầu vào bờ vai lực lưỡng của người ấy…

     - Anh còn nhớ câu ca dao đã có lần anh đọc cho em nghe không?

     - Câu ca dao nào cơ? - Người ấy vừa hỏi vừa đưa tay vuốt mái tóc dài và mượt của mẹ.

     - Anh không nhớ thật à thế thì để em đọc cho anh nhé:

“Mẫu đơn nở cạnh nhà thờ.

Đôi ta trinh tiết đợi chờ lấy nhau”.

     Người ấy siết chặt mẹ vào người mình nói trong giọng run run:

     - Huệ! Cảm ơn em nhiều lắm. Hãy tha thứ cho sự nông nổi của anh. Em can đảm hơn anh tưởng. Đến lúc này anh càng xác tín: Em là người phụ nữ duy nhất của đời anh. Nhất định em phải đợi anh về nhé!

     Mẹ  như trở nên nhỏ bé trong vòng tay của người ấy.

     - Vâng nhất định em sẽ đợi anh trở về…

     Người ấy là cha tôi bây giờ. Sau đúng một năm ngày đất nước hoàn toàn giải phóng tôi cất tiếng khóc chào đời. Cho đến bây giờ mỗi lần kể lại câu chuyện tình của bố và mẹ mẹ vẫn kể với tất cả niềm hãnh diện như một lời nhắc bảo cho thế hệ cháu con. 

More...

Phân tích đoan thơ trong "Tây tiến" của Quang Dũng.

By Phan Đình Phùng

 

 

 

Phân tích đoạn thơ sau trong bài “Tây Tiến” của Quang Dũng:

“Sông mã xa rồi Tây Tiến ơi !

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đời !

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”



* Bài làm

Năm 1948 cuộc kháng chiến của quân và dân ta chống thực dân Pháp bước sang năm thứ 3. Ta vừa thắng lớn trên chiến trường Việt Bắc thu đông 1947. Chặng đường lịch sử phía trước của dân tộc còn đầy thử thách gian nan. Cuộc kháng chiến đã chuyển sang một giai đoạn mới. Tiền tuyến và hậu phương tràn ngập tinh thần phấn chấn và quyết thắng.

Thời gian này văn nghệ kháng chiến thu được một số thành tựu xuất sắc. Một số bài thơ hay viết về “anh bộ đội Cụ Hồ” nối tiếp nhau xuất hiện: “Lên Tây Bắc” (Tố Hữu) “Đồng Chí” (Chính Hữu) “Nhớ” (Hồng Nguyên)… và “Tây Tiến” của Quang Dũng.

Quang Dũng viết “Tây Tiến” vào năm 1948 tại Phù Lưu Chanh một làng ven con sông Đáy hiền hòa. Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là nỗi nhớ: nhớ đồng đội thân yêu nhớ đoàn binh Tây Tiến nhớ bản mường và núi rừng miền Tây nhớ kỉ niệm đẹp một thời trận mạc… Nói về nỗi nhớ ấy bài thơ đã ghi lại hào khí lãng mạn của tuổi trẻ Việt Nam của “bao chiến sĩ anh hùng” trong buổi đầu kháng chiến chống Pháp vô cùng gian khổ mà vinh quang.

“Tây Tiến” là phiên hiệu của một đơn vị bộ đội hoạt động tại biên giới Việt – Lào miền Tây tỉnh Thanh Hóa và Hòa Bình. Quang Dũng là một cán bộ đại đội của “đoàn binh không mọc tóc” ấy đã từng vào sinh ra tử với đồng đội thân yêu.

Hai câu thơ đầu nói lên nỗi nhớ nhớ miền Tây nhớ núi rừng nhớ dòng sông Mã thương yêu:

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi !

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”

Đã “xa rồi” nên nỗi nhớ không thể nào nguôi được nhớ da diết đến quặn lòng đó là nỗi nhớ “chơi vơi”. Tiếng gọi “Tây Tiến ơi” vang lên tha thiết như tiếng gọi người thân yêu. Từ cảm “ơi!” bắt vần với từ láy “chơi vơi” tạo nên âm hưởng câu thơ sâu lắng bồi hồi ngân dài từ lòng người vọng vào thời gian năm tháng lan rộng lan xa trong không gian. Hai chữ “xa rồi” như một tiếng thở dài đầy thương nhớ hô ứng với điệp từ “nhớ” trong câu thơ thứ hai thể hiện một tâm tình đẹp của người chiến binh Tây Tiến đối với dòng sông Mã và núi rừng miền Tây. Sau tiếng gọi ấy biết bao hoài niệm về một thời gian khổ hiện về trong tâm tưởng.

Những câu thơ tiếp theo nói về chặng đường hành quân đầy thử thách gian nan mà đoàn binh Tây Tiến từng nếm trải. Các tên bản tên mường: Sài Khao Mường Lát Pha Luông Mường Hịch Mai Châu… được nhắc đến không chỉ gợi lên bao thương nhớ vơi đầy mà còn để lại nhiều ấn tượng về sự xa xôi heo hút hoang dã thâm sơn cùng cốc … Nó gợi trí tò mò và háo hức của những chàng trai “Từ thuở mang gươm đi giữ nước – Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long”. Đoàn binh hành quân trong sương mù giữa núi rừng trùng điệp:

“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi”

Bao núi cao đèo cao dốc thẳng dựng thành phía trước mà các chiến sĩ Tây Tiến phải vượt qua.

Dốc lên thì “khúc khuỷu” gập ghềnh dốc xuống thì “thăm thẳm” như dẫn đến vực sâu. Các từ láy: “khúc khuỷu” “thăm thẳm” “heo hút” đặc tả gian khổ gian truân của nẻo đường hành quân chiến đấu: “Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm – Heo hút cồn mây súng ngửi trời!”. Đỉnh núi mù sương cao vút. Mũi súng của người chiến binh được nhân hóa tạo nên một hình ảnh: “súng ngửi trời” giàu chất thơ mang vẻ đẹp cảm hứng lãng mạn cho ta nhiều thi vị. Nó khẳng định chí khí và quyết tâm của người chiến sĩ chiếm lĩnh mọi tầm cao mà đi tới “Khó khăn nào cũng vượt qua – Kẻ thù nào cũng đánh thắng!”. Thiên nhiên núi đèo xuất hiện như để thử thách lòng người: “ngàn thước lên cao ngàn thước xuống”. Hết lên lại xuống xuống thấp lại lên cao đèo nối đèo dốc tiếp dốc không dứt. Câu thơ được tạo thành hai vế tiểu đối: “Ngàn thước lên cao // ngàn thước xuống” hình tượng thơ cân xứng hài hòa cảnh tượng núi rừng hùng vĩ được đặc tả thể hiện một ngòi bút đầy chất hào khí của nhà thơ – chiến sĩ.

Có cảnh đoàn quân đi trong mưa: “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”. Câu thơ được dệt bằng những thanh bằng liên tiếp gợi tả sự êm dịu tươi mát của tâm hồn những người lính trẻ trong gian khổ vẫn lạc quan yêu đời. Trong màn mưa rừng tầm nhìn của người chiến binh Tây Tiến vẫn hướng về những bản mường những mái nhà dân hiền lành và yêu thương nơi mà các anh sẽ đến đem xương máu và lòng dũng cảm để bảo vệ và giữ gìn.

Ta trở lại đoạn thơ trên gian khổ không chỉ là núi cao dốc thẳm không chỉ là mưa lũ thác ngàn mà còn có tiếng gầm của cọp beo nơi rừng thiêng nước độc nơi đại ngàn hoang vu:

“Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”

“Chiều chiều…” rồi “đêm đêm” nhưng âm thanh ấy “thác gầm thét” “cọp trêu người” luôn khẳng định cái bí mật cái uy lực khủng khiếp ngàn đời của chốn rừng thiêng. Chất hào sảng trong thơ Quang Dũng là lấy ngoại cảnh núi rừng miền Tây hiểm nguy để tô đậm và khắc họa chí khí anh hùng của đoàn quân Tây Tiến. Mỗi vần thơ đã để lại trong tâm trí người đọc một ấn tượng: gian nan tột bậc mà cũng can trường tột bậc! Đoàn quân vẫn tiến bước người nối người băng lên phía trước. Uy lực thiên nhiên như bị giảm xuống và giá trị con người như được nâng cao hẳn lên một tầm vóc mới. Quang Dũng cũng nói đến sự hy sinh của đồng đội trên những chặng đường hành quân vô cùng gian khổ:

“Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đời…”

Hiện thực chiến tranh xưa nay vốn như thế! Sự hy sinh của người chiến sĩ là tất yếu. Xương máu đổ xuống để xây đài tự do. Vần thơ nói đến cái mất mát hy sinh nhưng không chút bi luỵ thảm thương.

Hai câu cuối đoạn thơ cảm xúc bồi hồi tha thiết. Như lời nhắn gửi của một khúc tâm tình. Như tiếng hát của một bài ca hoài niệm vừa bâng khuâng vừa tự hào:

“Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”

“Nhớ ôi!” tình cảm dạt dào đó là tiếng lòng của các chiến sĩ Tây Tiến “đoàn binh không mọc tóc”. Câu thơ đậm đà tình quân dân. Hương vị bản mường với “cơm lên khói” với “mùa em thơm nếp xôi” có bao giờ quên? Hai tiếng “mùa em” là một sáng tạo độc đáo về ngôn ngữ thi ca nó hàm chứa bao tình thương nỗi nhớ điệu thơ trở nên uyển chuyển mềm mại tình thơ trở nên ấm áp. Cũng nói về hương nếp hương xôi về “mùa em” và tình quân dân sau này Chế Lan Viên viết trong bài “Tiếng hát con tàu”.

“Anh nắm tay em cuối mùa chiến dịch

Vắt xôi nuôi quân em giấu giữa rừng

Đất Tây Bắc tháng ngày không có lịch

Bữa xôi đầu còn tỏa nhớ mùi hương”

“Nhớ mùi hương” nhớ “cơm lên khói” nhớ “thơm nếp xôi” là nhớ hương vị núi rừng Tây Bắc nhớ tình nghĩa nhớ tấm lòng cao cả của đồng bào Tây Bắc thân yêu. Mười bốn câu thơ trên đây là phần đầu bài “Tây Tiến” một trong những bài thơ hay nhất viết về người lính trong 9 năm kháng chiến chống Pháp. Bức tranh thiên nhiên hoành tráng trên đó nổi bật lên hình ảnh chiến sĩ can trường và lạc quan đang dấn thân vào máu lửa với niềm kiêu hãnh

“ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh…”.

Đoạn thơ để lại một dấu ấn đẹp đẽ về thơ ca kháng chiến mà sự thành công là kết hợp hài hòa giữa khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn.

Nửa thế hệ đã trôi qua bài thơ “ Tây Tiến của Quang Dũng ngày một thêm sáng giá.

More...

Bài thơ "Tây tiến" của Quang Dũng.

By Phan Đình Phùng

 

Đề: Cảm hứng chủ đạo trong bài thơ Tây Tiến cuả Quang Dũng là cảm hứng về nỗi nhớ. Hãy phân tích 8 câu đầu để làm rõ nhận định trên

 
Bài làm
Quang Dũng là một trong những nhà thơ chiến sĩ tiêu biểu cuả thời kì kháng chiến chống Pháp.Ông đặc biệt thành công khi viết về đề tài người lính trí thức tiểu tư sản hào hoa phong nhã. Một trong những bài thơ nổi tiếng viết về người lính là bài thơ Tây Tiến. Cảm hứng chủ đạo trong suốt bài thơ là cảm hứng về nỗi nhớ. Đó là nỗi nhớ khó phai cuả đời người lính Tây Tiến được khắc hoạ thành công ở tám câu đầu cuả bài thơ
" Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi
..... mưa xa khơi"
Tây Tiến là 1 trong những bài thơ hay tiêu biểu cuả Quang Dũng. Nhắc đến nhà thơ ko ai không thể ko nhớ đến Tây Tiến. Bởi lẽ nó đã gắn bó 1 thời sâu sắc với nhà thơ. Tây Tiến là 1 đơn vị bộ đội thời kháng chiến chống Pháp được thành lập năm 1947 làm nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào đánh tiêu hao sinh lực địch ở vùng Thượng Lào trấn giữ 1 vùng rộng lớn ở Tây Bắc nước ta và biên giới Việt Lào. Quang Dũng từng là đại đội trưởng cuả binh đoàn Tây Tiến nhưng đến đầu năm 1948 vì yêu cầu nhiệm vụ ông chuyển sang đơn vị khác. Bài thơ đượ sáng tác cuối năm 1948 khi nhà thơ đóng quân ở Phù Lưu Chanh_ 1 làng ven bờ sông Đáy nhớ về đơn vị cũ ông đã viết nên bài thơ. Lúc đầu ông đặt bài thơ là Nhớ Tây Tiến nhưng về sau đổi lại thành Tây Tiến vì nhà thơ cho rằng chỉ với 2 từ Tây Tiến cũng đủ đã gợi lên nỗi nhớ là cảm hứng chủ đạo chứ ko cần đến từ "nhớ"
Là 1 người lính trẻ hào hoa lãng mạn ra đi theo tiếng gọi cuả tổ quốc sống và chiến đấu nơi núi rừng gian khổ nhưng chất thi sĩ vẫn trào dâng mãnh liệt trong lòng nhà thơ. 1 thời gắn bó sâu đậm với Tây Tiến với đồng đội với núi rừng đã làm cho ông ko khỏi bồi hồi xúc động khi nỗi nhớ về Tây Tiến dâng trào trong kí ức cuả nhà thơ.
"Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi"
Câu thơ như tiếng gọi chân thành tha thiết xuất phát từ trái tim và tâm hồn người thi sĩ. Bằng cách sử dụng câu cảm thán mở đầu bài thơ Quang Dũng đã gọi tên cảm hứng chủ đạo cuả bài thơ là nỗi nhớ cồn cào da diết về núi rừng Tây Bắc. bằng thủ pháp nghệ thuật nhân hoá câu thơ trở nên đẹp diệu kỳ. "Sông Mã" ko đơn thuần là 1 con sông mà nó đã trở thành 1 hình ảnh hiện hữu 1 chứng nhân lịch sử trong suốt cuộc đời người lính Tây Tiến với bao nỗi vui_buồn được_mất. "Tây Tiến" ko chỉ để gọi tên 1 đơn vị bộ đội mà nó đã trở thành 1 người bạn " tri âm tri kỉ" để nhà thơ giãi bày tâm sự
"Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi"
Câu thơ thứ 2 với điệp từ "nhớ" được lặp lại 2 lần đã diễn tả nỗi nhớ quay quắt cồn cào đang uà vào tâm trí Quang Dũng. tính từ "chơi vơi" kết hợp với từ "nhớ" đã khắc sâu được tình cảm nhớ nhung da diết cuả nhà thơ và nỗi nhớ đó như 1 cơn thác lũ tràn vào tâm trí nhà thơ đã đẩy ông vào trạng thái bồng bềnh hư ảo. 2 câu đầu với cách dùng từ chọn lọc gợi hình gợi cảm đã mở cưả cho nỗi nhớ trào dâng mãnh liệt trong tâm hồn nhà thơ
"Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời"
Quang Dũng đã liệt kê hàng loạt các địa danh như: Sài Khao Mường Lát Pha Luông... Đó là địa bàn hoạt động cuả binh đoàn Tây Tiến những nơi họ đi qua và dừng chân trên bước đường hành quân gian khổ mệt nhọc. Nói đến Tây Bắc là nói đến vùng đất có điạ hình hiểm trở khí hậy khắc nghiệt. Có những đêm dài hành quân người lính Tây Tiến vất vả đi trong đêm dày đặc sương giăng ko nhìn rõ mặt nhau. “Đoàn quân mỏi” nhưng tinh thần ko “mỏi”. Bởi ý chí quyết tâm ra đi vì tổ quốc đã làm cho những trí thức Hà thành yêu nước trở nên kiên cường bất khuất hơn. Quang Dũng đã rất tài tình khi đưa hình ảnh “sương” vào đây để khắc hoạ hơn sự khắc nghiệt cuả núi rừng Tây Bắc trong những đêm dài lạnh lẽo. Cũng miêu tả về “sương” Chế Lan Viên cũng đã viết trong “Tiếng hát con tàu”:
“Nhớ bản sương giăng nhớ đèo mây phủ
Nơi nao qua lòng lại chẳng yêu thương
Khi ta ở chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi đất đã hoá tâm hồn”
Có lẽ thiên nhiên rất gắn bó với người lính Tây Bắc nên nó đã trở thành 1 kí ức khó phai trong lòng nhà thơ. Thiên nhiên tuy có đẹp nhưng cũng rất hiểm trở. Có những lúc người lính Tây Tiến phải vất vả để trèo lên đỉnh chạm đến mây trời. Quang Dũng đã khéo léo sử dụng từ “thăm thẳm” mà ko dùng từ “chót vót” bởi nói “chót vót” người ta còn có thể cảm nhận và thấy được bề sâu cuả nó nhưng “thăm thẳm” thì khó có ai có thể hình dung được nó sâu thế nào. Bằng những từ láy gợi hình ảnh rất cao như “khúc khuỷu” “thăm thẳm” “heo hút” nhà thơ đã làm cho người đọc cảm nhận được cái hoang sơ dữ dội cuả núi rừng Tây Bắc. Nhà thơ cũng rất trẻ trung tinh nghịch khi đưa hình ảnh nhân hoá ẩn dụ “ súng ngửi trời” để cho ta thấy bên cạnh thiên nhiên hiểm trở còn hiện lên hình ảnh người lính với tư thế oai phong lẫm liệt nơi núi rừng hoang vu. Câu thơ sử dụng nhiều thanh trắc đã tạo nên vẻ gân guốc nhọc nhằn đã nhấn mạnh được cảnh quang thiên nhiên Tây Bắc thật cheo leo hiểm trở
“Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống”
Điệp từ “ngàn thước” đã mở ra 1 ko gian nhìn từ trên xuống cũng như từ dưới lên thật hùng vĩ giăng mắc. Bên cạnh cái hiểm trở hoang sơ ta cũng thấy được vẻ đẹp trữ tình nơi núi rừng:
“Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”
Có những cơn mưa rừng chợt đến đã để lại bao giá rét cho người lính Tây Tiến. Nhưng dưới ngòi bút cuả Quang Dũng nó trở nên lãng mạn trữ tình hơn. Nhà thơ đã thông minh sáng tạo khi nói đến mưa rừng bằng cụm từ “mưa xa khơi”. Nó gợi lên 1 cái gì đó rất kì bí hoang sơ giưã chốn núi rừng. Câu thơ thứ 8 nhiều thanh bằng như làm dịu đi vẻ dữ dội hiểm trở cuả núi rừng và mở ra 1 bức tranh thiên nhiên nơi núi rừng đầy lãng mạn. 8 câu thơ đầu cuả bài thơ Tây Tiến là nhỗi nhớ về núi rừng Tây Bắc về đồng đội Tây Tiến nhưng qua những chi tiết đặc tả về thiên nhiên núi rừng Tây Bắc nó đã trở thành 1 kí ức xa xôi trong tâm trí nhà thơ. Đó là 1 nỗi nhớ mãnh liệt cuả người lính Tây Tiến nói riêng và cuả những người lính nói chung.
Bài thơ “Tây Tiến” dưới ngòi bút cuả lãng mạn trữ tình cuả Quang Dũng đã trở thành 1 kiệt tác cuả mọi thời đại. Cảm hứng chủ đạo xuyên suốt bài thơ đó là cảm hứng về nỗi nhớ. Quang Dũng đã miêu tả nỗi nhớ đó bằng ngòi bút tài tình giàu chất nhạc chất hoạ và đậm chất thơ. Bài thơ là 1 khúc nhạc cuả tâm hồn cuả cuộc sống. Bởi thế Xuân Diệu thật chính xác khi cho rằng đọc bài thơ “Tây Tiến” như đang ngậm âm nhạc trong miệng. Bài thơ hay bởi lẽ nó được viết nên từ ngòi bút hào hoa lãng mạn và cuả 1 người lính Tây Tiến nên nó có 1 cái rất riêng và đẹp. Mang chất lính nên Quang Dũng mới có thể viết nên những vần thơ hay như thế
“Tây Tiến” là 1 bài thơ hay được viết nên bởi tâm hồn tài hoa lãng mạn cuả người lính trí thức tiểu tư sản Quang Dũng. Bài thơ như 1 bức tượng đài bất tử đã tạc vào nền văn học Việt Nam hình ảnh những người lính trí thức yêu nước vô danh. Bài thơ xứng đáng được xem là kiệt tác cuả Quang Dũng khi viết về người lính trí thức tiểu tư sản hào hoa phong nhã.

 

More...

Tản văn về đạo 1.

By Phan Đình Phùng

 

 

 

KHẮC KHOẢI

 

Đã 2 giờ sáng. Tiếng chuông đồng hồ ở nhà thờ lớn vừa thong thả điểm lại nghe khô như ngói thế mà Toàn vẫn chưa tài nào chợp mắt được. Anh nằm đấy trằn trọc mắt trân trối nhìn thẳng lên trần nhà như muốn kiếm tìm cho ra bằng được một điều gì một giải pháp gì mà chính anh anh cũng chẳng thể nào hiểu là liệu khi tìm ra được rồi thì anh sẽ giải quyết thế nào.

Hình ảnh cô bé gặp gỡ lúc chiều làm cho anh không sao quên được. Nhất là câu nói của cô bé khiến đầu óc anh quay cuồng tựa hồ đang rơi vào một miền vô định. Nó như một mũi dao sắc lạnh xuyên thẳng vào trái tim vốn rất nhạy cảm của anh. Anh không hiểu tại sao mình lại có thể rung cảm trước một cô bé đã trót dại với một anh chàng nào đó. Chẳng lẽ bây giờ người ta sống như thế hết hay sao? Chẳng lẽ người ta sống như con vật sao? Giá trị con người nằm ở chỗ nào? Anh băn khoăn lo lắng! Chẳng lẽ là… Cứ như thế mãi cho đến khi anh mơ màng chìm vào giấc ngủ.

- Em xin anh xin anh hãy thương lấy đứa bé! Nó chẳng có tội tình gì.

- Thế bố của nó đâu? - Anh hỏi.

- Em xin lỗi! Em là một đứa mất nết. Xin anh đừng hỏi về bố nó. Chính em em cũng không biết. Chỉ mong sao sau này con em đừng sống như em. Tiếc là em không có cơ hội để nói cho nó biết mẹ nó là người thế nào.

Anh trố mắt nhìn sửng sốt miệng há hốc định quạt cho cô bé một trận nhưng câu nói của cô bé như lớp băng keo dán chặt vào miệng anh. Ánh mắt của cô nài xin sự cảm thông và chia sẻ. Anh chua xót lắc đầu và nắm chặt tay cô bé bàn tay ấy nhũn mềm trong tay anh. Anh cứ thế nắm chặt tay của cô bé nửa muốn trách cứ nửa muốn động viên cô hãy vượt cạn qua nỗi khốn cùng này và hy vọng vào một tương lai sán lạn khấm khá hơn không chỉ cho cô mà còn cho cả đứa bé nữa. Thế nhưng cuộc đời không đơn giản thế. Từng là bác sĩ nên anh biết trong trường hợp này muốn cho đứa bé được sống thì chính cô cô sẽ phải ra đi mãi mãi hoặc là ngược lại. Thật là quái ác!

- Này Toàn! Cậu với cô bé đó thế nào? Chẳng lẽ cậu định lo cho cô ấy thật à?

- Tớ á! Tớ cũng chẳng biết. Tớ chỉ cảm thấy mình cần phải làm một cái gì đó cho cô bé.

- Hâm! Thế cậu không sợ mang tiếng à?

- Mang tiếng? Mang tiếng với ai? Bố mẹ thì chẳng còn anh em thì không. Bạn bè thì chỉ có cậu là người thân thiết và cũng là người đồng cam cộng khổ với tớ. Có chuyện gì mà tớ lại không chia sẻ với cậu đúng không? Vả lại tớ có làm gì quá đáng đâu. Nếu có mang tiếng thì chỉ sợ mang tiếng với lương tâm thôi.

- Nhưng cậu đang là chủng sinh mà cô ấy là… Mọi người sẽ hiểu lầm. Chẳng lẽ cậu định làm thánh Giuse thứ hai sao? Đừng có hâm!...

Tiếng hâm của thằng bạn như phát búa đập mạnh vào trái tim anh. Anh giật mình hốt hoảng ngơ ngác nhìn quanh song chợt nhận ra đó chỉ là giấc mơ. Anh cố gắng ru mình vào giấc ngủ và cầu mong giấc mơ vừa xảy ra được tiếp tục để xem xem kết cục sẽ thế nào nhưng anh không tài nào ngủ lại được. Anh tự nhủ: Ừ nhỉ! Biết đâu mình hâm thật!? Nhưng mà những gì vừa xảy ra trong giấc mơ liệu có khi nào thành sự thật không? Liệu anh có sẵn sàng theo một hành trình khác và trở thành một chàng Giuse mới trong thời đại này không? Anh còn đang suy nghĩ mông lung như vậy thì tiếng chuông báo thức đã kéo anh trở lại với cuộc sống thường nhật của một người chủng sinh. Anh choàng dậy lao ra khỏi giường với mong muốn tẩy rửa thật sạch giấc mơ vừa qua cho nhanh để không còn chút ấn tượng nào trong tâm trí anh nữa nhưng xem ra hơi khó. Cuộc đời thật oái oăm!

Bất giác anh đứng thẳng tay vươn lên cao ngực ưỡn về phía trước và lẩm nhẩm: Lạy Chúa! Nếu Chúa là con trong lúc này Chúa sẽ làm gì?

                 

 

 

                       

TẢN MẠN CHUYỆN ĐỘC THÂN

            Con đi tu đã lâu mà chưa thành linh mục. Tóc trên đầu con đã vơi đi ít nhiều đề lộ vầng trán “thông thái” của một người chẳng có chi là thông thái. Mớ tóc còn lại cũng đã lấm tấm bạc. Con chưa già mà sao cứ như ông già! Đi bên cạnh mấy thầy mới vào trường mới thấy khoảng cách tuổi tác ấy càng lớn. Mấy thầy nhập đại chủng viện  càng ngày càng trẻ mới hai mươi hai mốt tuổi như cánh chim khỏe khoắn tươi xinh. Con như nồi cơm hâm mấy lửa thế hệ cuối cùng của chương trình cũ của lớp “ thầy già”.

            Bằng tuổi con bạn bè đã yên bề gia thất. Hôm trước con gặp đứa bạn thân đi lễ cùng với vợ con của nó. Đứa  con bé bỏng nằm ngủ ngon lành trong vòng tay của ba nó. Con cũng có bản năng và khao khát của người làm cha một người cha yêu thương và bảo bọc con cái trong đôi tay của mình. Một hạnh phúc yên bình và cao cả khiến con ao ước khiến con thấy mình lẻ loi cô quạnh giữa đại chủng viện đông đúc. Đôi lúc con cảm thấy như mình đang sống một mình quạnh quẽ mặc dầu mấy thầy cùng phòng đang ngồi châm thuốc nói chuyện bên cạnh...

            Phòng của lớp chúng con nằm ở một dãy riêng. Mỗi lần đi lên phòng con đều cúi đầu trước tượng Thánh Giuse đặt trên lối đi. Đôi lúc con dừng lại một giây để ngắm nhìn Ngài. Thánh Giuse cương nghị mạnh mẽ mà cũng thật dịu hiền! Chúa Giêsu nép vào lòng Ngài yên bình tin tưởng. Một tay Ngài cầm nhánh huệ tinh trắng. Đã bao lần con thỏ thẻ xin cho mình cũng được lòng khiết tịnh như Ngài nhưng cũng bao lần con khao khát có một mái ấm cho riêng con.

            Chúa Giêsu đã tìm đến tấm lòng của một người cha dâng hiến. Thánh Giuse đã dâng hiến cuộc đời một cách mãnh liệt dứt khoát và trọn vẹn! Đôi khi con đi đường vòng để khỏi thấy Thánh Giuse khỏi thấy nhánh huệ tinh khiết trong tay Ngài nhưng lòng con thì luôn khắc khoải. Con nhìn lại những tháng ngày tươi trẻ đang đi qua. Chưa con chưa già! Con vẫn còn trẻ. Bờ vai nầy vẫn còn săn chắc. Đôi tay này vẫn còn khỏe mạnh có thể rộng ôm vào lòng một gia đình đông đúc… Con nhìn lại mối tình đầu ngọt ngào mà con đã từ bỏ. Giả như Chúa đưa con quay lại ngày xưa Chúa ơi con không biết mình vẫn sẽ chọn con đường này hay một con đường khác.

            Có lẽ nào các họa sĩ lại vẽ Thánh Giuse với hình dáng của một ông già bạc phơ râu tóc? Con nghĩ  Thánh Giuse không già như vậy đâu! Ngài cũng trẻ trung cũng tràn trề sức sống nhưng nhân đức của Ngài thì chín muồi. Đó là sự tin tưởng phó thác nơi Chúa.

            Con tin Chúa đã chọn lựa con thì Ngài cũng sẽ gìn giữ con như Ngài đã chọn và gìn giữ Thánh Giuse.

            Đôi khi nghĩ già cũng hay! Chẳng dám đi đâu làm gì mà không bám víu vào Chúa.

 

 

 

VẾT RẠN

Tiếng phi cơ mạnh mẽ đưa chiếc máy bay cất cánh từ từ rời xa quê hương. Chuyến bay ấy mang theo Hắn đưa Hắn đi xa với một khoảng cách vật lý tăng dần tăng dần…

            Tình cờ Nhỏ và Hắn trở thành anh em kết nghĩa. Trong thâm tâm tự hai đứa đều biết rõ con đường mình đang đi và những giới hạn. Sự liên đới nơi lời nguyện cầu thay cho tấm lòng mong muốn nâng đỡ giúp nhau vượt qua những khó khăn trong đời. Với Nhỏ Hắn như quà tặng quý lắm mà Nhỏ hằng cảm tạ Thượng Đế. Cách chia sẻ niềm vui nỗi ưu tư giữa Nhỏ và Hắn dành cho nhau chỉ có nơi người bạn tri âm tri kỷ: không ồn ào không đòi hỏi; chỉ đơn thuần là riêng tư đón nhận cùng vui cùng khóc. Dẫu không ai nói thành lời Nhỏ và Hắn cùng tự dặn lòng trân trọng và gìn giữ tương quan hai đứa như đôi bạn thiêng liêng. Thời gian xoay vần… Đôi lần cãi cọ rồi cũng làm hòa. Sợi dây liên lạc dần dần đi vào im lặng và dừng lại đột ngột. Lý do được đưa ra Nhỏ không sao hiểu được và cố đi tìm đáp án. Vẫn không lời giải thích nào khác. Hắn thay đổi đột ngột. Thái độ Hắn không giống ngày trước: một ông anh! Bây giờ Hắn hắt hủi Nhỏ như một mối nguy hiểm cận kề. Nhỏ bắt đầu cảm thấy sợ nhưng không hiểu sao trong tận đáy tâm hồn Nhỏ vẫn vang lên lời mách bảo rằng: “Hắn là người tốt đó!” Thời gian cứ tiếp tục trôi trong sự thinh lặng đó dường như Nhỏ tìm ra câu trả lời. Nhỏ không muốn tin! Nếu đúng vậy thì giữa Hắn và Nhỏ không còn là anh em như hai đứa trẻ vô tư. Điều ấy có nghĩa là Nhỏ mất Hắn ở một góc độ nào đó. Đối với Nhỏ Hắn như một ông anh tốt bụng không hơn không kém.

            Quyết định đi phục vụ xa quê hương của Hắn làm Nhỏ không nén được tiếng thở dài. Điều mà Nhỏ cho là không lẽ nay đã trở thành có thể. Ở góc đằng kia nhóm người đi tiễn Hắn ra về vui vẻ. Đằng này Nhỏ cũng đi về tự cười với chính mình và vị mằn mặn ở đầu môi. Tất cả khép lại đóng khung một đoạn album đã vĩnh viễn là quá khứ. Chợt dừng lại quay nhìn bầu trời phía sau Nhỏ nói:

            - Nhà ngươi có muốn thắng thì cũng phải nói một tiếng chứ! Mà nhà ngươi thắng gấp thế này thì…

            Chiếc xe chầm chậm in dấu trên con đường quay về thực tại. Chợt dừng lại Nhỏ nhìn thấy tượng Thánh Giuse với nhành huệ trắng trên tay. Câu nói ngày nào của Hắn vọng về: “Con tim có những lý lẽ của nó mà lý trí không tài nào hiểu được đâu!” Gạt nhanh dòng nước mắt khẽ nghiêng người chào Thánh Giuse Nhỏ tiếp tục con đường đang đi dang dở. Nhỏ hiểu! Hắn sợ mình không thể kiểm soát lý lẽ của con tim và không muốn lỗi nhịp đập hòa cùng cung điệu dâng hiến. Cách Hắn làm giống như một hợp âm “át bảy” vang dội nghe chói tai. Nhưng rồi sau đó là đoạn kết êm đềm sâu lắng.

Chuyện đời nhân gian kể rằng có một viên ngọc rất đẹp nhưng không phải là do không có một chút trầy xước nào. Ngược lại viên ngọc ấy có một vết rạn nứt. Nhà vua đã ra lệnh thưởng công xứng đáng cho ai chữa lành viên ngọc ấy. Khắp nhân gian bao thợ kim hoàn lần lượt kéo nhau đến rồi lại lắc đầu ra về. Cho tới một ngày kia có một anh thợ đến xin phép nhà vua để đem viên ngọc về và được làm theo ý mình. Đến kỳ hạn anh đem viên ngọc trình lên cả nhà vua và triều thần cùng trầm trồ khen ngợi bởi trên viên ngọc bây giờ có một bông hồng tuyệt đẹp đã được điêu khắc rất công phu tỉ mỉ. Nhà vua ngạc nhiên quan sát và rồi nhận ra vết rạn nứt ngày nào nay đã trở thành thân của một chiếc lá bông hồng. Gấp sách đôi môi Nhỏ khe khẽ cười không nước mắt khi đối diện vấn đề rất thực con người: tự nhiên yếu đuối và lý tưởng chấp nhận và an bình.

Tiếng chuông nhà thờ thân quen điểm báo một thời khắc. Thời gian lặng lẽ tiếp tục đi …

 

 

 

 

Ý NGHĨA MỘT LOÀI HOA

 

Từ rất lâu trong ánh mắt Thời Gian khi nhân loại quẫy đạp tự do của mình theo bóng đêm hình bóng hỗn độn và hư hoại đã hả hê xuất hiện trên từng căn tính sự vật. Cơn bão táp đam mê khiến mọi hình hài đều nghiêng chiều và rạp mình trước vùng xoáy hỗn mang vô lối. Trần gian thoi thóp thở trong sự thống trị của sự chết. Bỗng một tiếng vọng thâm sâu từ Trên Cao rung nhẹ cung đời vạn vật. Khắp nơi khấp khởi với thông điệp yêu thương tràn về nôn nao cõi thế: Giữa tăm tối màn đêm một loài hoa sẽ mang Hình Ảnh Trái Tim mở ra bình minh cuộc sống.

Từ lúc ấy vũ hoàn nghe thấy tiếng bước chân xôn xao của muôn hoa chạy đến với Thời Gian để hiểu hơn về bản ngã tự thân. Tất cả đều đồng lòng và cùng một ý nghĩ chính mình sẽ là cánh hoa duy nhất cung chứa Trái Tim của Trời Cao. Mọi loài hoa đều mong Thời Gian tăng thêm sắc để khoe vẻ đẹp kiêu sa của mình như là sự xứng đáng cho Trái Tim Vĩ Đại ngự trị. Chưa đồng thuận với điều ấy các loài hoa lại lên tiếng yêu cầu thắm tràn hương để mọi nơi đều biết vinh dự cao quý mình đang đặc hưởng.

Thời Gian mệt mỏi vì những ngôn từ trống rỗng chỉ mang bóng dáng môi miệng. Chưa một loài hoa nào ý thức việc mang Trái Tim Trời Cao là thế nào và để làm gì ? Tất cả chỉ nghĩ đến vinh quang ca tụng của muôn loài về mình mà quên rằng trái tim phải làm sao để sẵn sàng cho sứ mệnh trọng đại ấy !

Giữa vườn hoa đang rợp hương sắc rực rỡ vạn vật chợt nhận ra một loài hoa đồng nội đứng bình an trong tĩnh lặng. Loài hoa ấy không ngả nghiêng theo cánh tay quyến rũ thế trần gọi mời cũng không đua đòi màu gió hào nhoáng thoảng qua. Loài hoa ấy ôm ấp sự thuần khiết đất trời trong thẳm sâu trái tim nên luôn vươn thẳng và hướng lên cao dù biết rằng dáng đứng của mình thật thấp bé so với đồng loại. Ngày hay đêm mưa hay nắng loài hoa chỉ có nụ cười lấp lánh làm duyên nét thanh mà trong đơn thành mà sâu lắng. Loài hoa ấy nhẹ nhàng quên đặc quyền bản thân không yêu cầu một điều gì cho mình chỉ luôn ước nguyện liên lỉ mong Thời Gian sớm ban tặng Trái Tim cho nhân loại.

Thời Gian như nghe âm vọng của hồn hoa thao thức nên cúi xuống thì thầm:

- Hoa không xin gì với Thời Gian sao ?!

- Tất cả mọi sự của Hoa đều là của Thời Gian! Hoa chỉ biết hướng lên Trời Cao để nhận lấy Ánh Sáng làm quang năng cho đôi chân bám rễ trong đất chắt chiu tinh tuý tình đời nở hoa giữa lòng cuộc sống.

Và rồi trong huyền sử Tình Yêu một loài hoa thanh khiết mang màu trắng tơ Trời vươn cao ngắm mây để kéo Hạt Mưa chạm đất vỡ ra tiếng thánh thót của giai điệu ngày đang lên. Loài hoa bình dị mọc giữa đồng nội ngày nào giờ nở thắm Đoá Huệ Thiêng ẩn chứa Hình Trái Tim cho trần đời dịu đi cơn sốt đam mê dằn vặt và cảm nhận hương Sự Thiện đang lan toả trên mỗi dấu bước Sự Thật.

Như một sự cộng hưởng từ đây khi mỗi trái tim biết gạt bỏ những nghiêng chiều chất thể biết hướng lên Trời Cao tiếp nhận Hạt Mưa Sự Thiện biến đổi tất cả sẽ nở Đoá Huệ Thiêng ngay trong lòng trái tim mình.

 

 

 

 

GIẤC MỘNG LÀNH

Tôi bước vào nhà thờ lúc trời sập tối   một mình thinh lặng trước bàn thờ thánh Giu-se.

Ông Từ có lẽ hài lòng vì tưởng tôi đang... cầu nguyện. Thật ra tôi đến đây là để tìm ý tưởng cho bài viết của mình. Tôi đang bí khi viết về Thánh Giuse mẫu gương của đời sống khiết tịnh.

Thánh Giuse là người thế nào nhỉ? Chắc lúc sống chung cùng Đức Mẹ Ngài cũng trạc tuổi mình. Ôi cái tuổi tò mò ham muốn thích chinh phục... thì làm sao cưỡng lại được bản năng?!?

Nghĩ ngợi hoài mà chẳng cảm nhận được gì tôi chán nản thiếp đi lúc nào không hay.

Ai đó vỗ vai tôi quay lại... Thật bất ngờ! Tôi suýt hét lên khi nhận ra trước mặt là một người... y chang tượng thánh Giu-se trên bàn thờ. Đích thị là thánh Giu-se bằng xương bằng thịt rồi. Ngài đến với tôi đang khi tôi khao khát được gặp Ngài để… phỏng vấn! Mừng quá tôi hỏi ngay: 

- Ngài không hề xúc động khi chung sống với người phụ nữ mình yêu sao?

Thánh Giu-se mỉm cười hiền hòa:

- Con tưởng tim ta bằng gỗ đá ư?

- Vậy làm sao thưa Ngài... Hai người sống chung  mà không hề ....

- Maria là một phụ nữ tuyệt trần! Làm sao ta không xúc động trước một thiên thần mặc xác phàm như thế. Nhưng khi người ta biết chặn đứng tình yêu nhục dục thì tình yêu thanh khiết sẽ vươn cao y như khi ta đắp đập chặn đứng dòng suối lại thì nước suối dâng lên và chảy đến tưới xanh những vườn cây và những cánh đồng ở những nơi cao. Nếu không được chặn dòng và định hướng dòng suối chỉ chảy tràn lan cách lãng phí và có thể nhận chìm những người khác nữa.

- Ồ! Thưa Ngài có phải vì thế mà Ngài đã quyết tâm giữ đức khiết tịnh nhờ thế mà tình yêu thanh khiết của Ngài vươn tới đỉnh cao?

- Con đã hiểu phần nào rồi đấy con ngoan của ta.

- Nhưng ngoài ra còn có những suy nghĩ nào giúp giữ đức khiết tịnh nữa không ạ?

Bấy giờ Thánh Giu-se chạm nhẹ vào trán tôi. Ngoại cảnh bỗng nhòa dần rồi tan biến và tôi đang phiêu du vào một vườn thượng uyển mê li.

Khu vườn có trăm hoa muôn sắc có vô vàn chim chóc tụ về. Đàn chim ríu rít trên ngàn hoa dưới bầu trời lồng lộng. Trong khi đó tội nghiệp chưa ai đó đã nhẫn tâm bắt nhốt một chú chim đáng thương trong một chiếc lồng cực đẹp! Dù được ở trong chiếc lồng quý giá đan bằng vàng ròng được đậu trên những nhành bằng ngà chén đựng thức ăn và nước uống bằng ngọc con chim vẫn ủ rũ buồn thiu đăm đăm nhìn chim bạn đang tung cánh vút trời xanh lòng khát khao được tung bay như thế.

Bất chợt lại một bàn tay chạm nhẹ vào trán tôi. Đàn chim và cảnh vật chung quanh tan biến. À thì ra bàn tay ấm áp của Thánh Giu-se khiến tôi thoát ra khỏi giấc mơ và trở về thực tại.

Thánh Giu-se vẫn còn đó trước mặt tôi Ngài tiếp: 

- Con chim khôn không hề muốn tự giam mình trong chiếc lồng chật hẹp dù chiếc lồng đó quý hơn ngọc ngà. Nó chỉ muốn xổ lồng tung cánh bay cao. Bởi càng bay lên cao hạnh phúc càng dâng tràn và mỗi ngày nó càng muốn bay cao lên mãi dứt khoát chẳng bao giờ muốn bị giam nhốt bởi chiếc lồng chật hẹp kia.

Lại mỉm cười nhìn tôi hiền hòa Ngài nhẹ nhàng bảo:

- Tình yêu đôi lứa cũng vậy con ạ. Nếu cứ bị giam nhốt trong vòng tay ân ái thì không thể vươn lên cao không bao giờ thanh thoát được.

Một tình yêu không bị giam cầm trong xác thịt không bị chi phối bởi bản năng và dục tình sẽ rất cao nhã và bao la. Những ai đã cảm nếm thứ tình yêu thanh thoát này sẽ luôn luôn quý trọng và sẽ cố bảo tồn nó bằng mọi giá cho đến mãn đời.

Con hiểu không? Tình yêu bị giam nhốt trong vòng tay ân ái là thứ tình yêu nghèo nàn và hạn hẹp không thể cất cánh vươn đến những con người đau khổ và đói khát tình thương. Trong khi đó tình yêu siêu thoát sẽ chắp cánh cho ta vươn đến những chân trời xa nơi những con người bất hạnh đang khao khát có ai đó chia sẻ tình thương với mình...

Bỗng một bàn tay lay nhẹ một bên vai khiến tôi choàng tỉnh lại.

« Thôi trễ rồi Cháu về nghỉ đi đã đến giờ đóng cửa! »

Lần nầy thì không còn là bàn tay thánh Giu-se trong mộng nữa. Ông Từ cắc cớ đã đưa tôi ra khỏi giấc mộng lành để quay về với thực tế đời thường. Ôi tiếc làm sao!

 

 

 

 

GAI NHỌN HÀNH TRÌNH

Trên con đường chiều gập ghềnh và khúc khuỷu với những đám bụi mù tung lên từ dấu chân của đoàn người chen chúc nhau đi về nguồn cội để tìm lại chính mình người ta thấp thoáng thấy một đôi vợ chồng đang dìu nhau đi rất chậm chạp như bị bỏ lại phía sau bởi cơn hối hả của cuộc sống.

Con đường phía trước còn quá dài cho một suy nghĩ về hành trình đích điểm. Người đàn ông vẫn lặng lẽ cất bước một tay đỡ người vợ trẻ mệt nhọc đang sắp sửa tới ngày khai hoa nở nhuỵ một tay giang ra để khai phóng và che chở cho Quà Tặng từ Trời Cao đang rung lên theo nhịp bước nơi cung lòng người vợ hiền.

Người đàn ông cương nghị với khuôn mặt rám nắng; chẳng có hành trang gì ngoài một túi vải trên vai và một cây gậy trong tay như là tất cả gia tài và quyền lực của mình. Có lẽ người đàn ông giàu trái tim thanh khiết nghị lực hơn giàu sản vật. Trong khi ấy bụi đường trần không làm mờ đi nét đẹp tinh tuyền của người phụ nữ vẻ duyên dáng đẹp ngời đó vẫn rạng rỡ như cánh huệ giữa trời đất một chút thanh cao đủ làm dậy sức sống.

Đường lên dốc càng khó khăn hơn khiến người đàn ông phải gắng hết sức đỡ người vợ trẻ đồng thời phải gồng mình chịu những va chạm mạnh bạo của tranh vượt trần đời. Mồ hôi thấm ướt cả lưng áo và đôi chân như chậm hẳn lại nhưng đôi tay dìu nhau vẫn cứ nắm chặt để tiến về phía trước.

Chợt những tiếng xì xầm từ phía sau vang lên và to dần làm cho không khí ngột ngạt càng trở nên ngột ngạt:

- Tiếc cho đoá hoa diễm lệ trong tay một kẻ quê mùa!

- Đáng trách cho một đôi tay không đỡ nổi một đôi tay!

Người đàn ông đau nhói trong tim khi tất cả mọi nhận xét như đều đúng với chính mình. Dù đã làm hết sức có lẽ cuộc đời đã lãng quên để chỉ trao cho người đàn ông những thành quả đủ chắt chiu ngày qua ngày. Bàn tay lao động và đôi tay nguyện cầu như chưa thể chu toàn hoàn hảo trách vụ người giám hộ được giao phó dưới ánh mắt thế trần.

Tất cả những gì là khuôn mẫu vật chất mà người đàn ông chuẩn bị cho Hoa Lòng của ông đều như để lại cho thời gian. Hành trình linh thiêng phía trước buộc người đàn ông ra đi không nuối tiếc chỉ mang theo trái tim yêu thương là người vợ dịu dàng thánh đức với Hoa Trái của Tình Yêu trong nàng. Ông trân trọng gìn giữ trái tim người vợ và trái tim ông thanh khiết trong thinh lặng của Sự Thiện để cung chứa Tình Yêu Trời Cao mà không bao giờ ông có thể thấu trọn. 

Người đàn ông cảm thấy mình bất xứng với trách nhiệm đè nặng trên đôi vai. Đường trần nào mệt mỏi cho bằng nỗi ưu tư về trọng trách? Những lời đàm tiếu của trần đời như những mũi tên bắn vào trái tim tinh tế của người đàn ông nhưng chính tinh thần trách vụ cao cả khiến người đàn ông như đang tổn thương trên hành trình đi về Nguồn Cội.

Người đàn ông thinh lặng tiến bước trong vâng phục huyền nhiệm mặc cho cái nhìn thế sự với muôn não trạng dị biệt và rẽ chia. Ông khuất bóng trong nhãn quan trần đời để thực hiện sứ mệnh của Tình Yêu lên tiếng.

Người đàn ông ngước mắt nhìn lên cao như để tìm sức mạnh và tiếng nói đồng cảm tận thâm sâu tâm hồn. Không gì có thể hiểu trái tim ngoài Trái Tim và không gì có thể cảm nhận Thiên Ý ngoài việc thực hiện Thiên Ý. Đó là cả sự sống mà người đàn ông đứng vững trong Niềm Tin của trái tim mình.

Ông giang tay đón nhận trách vụ với tất cả sự phó thác. Trong ánh mắt cảm thông trong cái siết tay thật chặt và sâu thẳm người đàn ông cảm nhận một luồng hơi ấm thanh khiết của yêu thương đang tràn về dào dạt để mọi ưu tư được cảm thấu và tan chảy theo dấu chân hành trình vâng phục.

 

 

 

 

TRÁI ĐẮNG

Cửa phòng xịch mở… Nó ào vào như một cơn lốc đổ vật xuống giường và khóc. Tức tưởi dồn dập. Căn phòng chật chội của tôi như muốn vỡ tung ra trong tiếng khóc nghẹn ngào của nó. Tôi ngạc nhiên! Xưa nay nó vốn là người ít bộc lộ cảm xúc. Chắc là đã có chuyện gì nghiêm trọng xảy ra. Một lúc sau nó nói giữa những cơn nức nở:

- Mình... thật... khốn nạn!... Thanh ơi! Tao đã... đánh mất... mình rồi... Làm sao... bây giờ?

Tôi ngồi sát bên nó. Bàn tay nhẹ vuốt mái tóc rối bù của nó. Điều mà tôi linh cảm không lẽ giờ đã là sự thật? Trước đây khi nó yêu Minh tôi đã nhiều lần khuyên nhủ nó phải cầu nguyện và suy xét kĩ càng. Chúng tôi đều là những lao động phổ thông sang nước ngoài làm việc nhưng quê của Minh cách chúng tôi hàng trăm cây số. Khi thấy mối quan hệ giữa nó và Minh ngày càng gắn bó tôi cảnh báo nó: “Hoa à! Mày đã hiểu gì về Minh chưa?” Nó cười bỏ ngoài tai lời nhắc nhở của tôi.

Cuộc sống ở xứ người với biết bao nhiêu điều phức tạp. Chúng tôi là những người tứ xứ đến đây để tìm kiếm một công việc cho mình. Hi vọng với đồng lương kiếm được cuộc đời chúng tôi sẽ bước sang một trang mới khép lại một chặng đời vất vả tối tăm trong cái nghèo khổ và cảnh thất nghiệp. Thế nhưng hoàn cảnh và môi trường sống mới lại khiến chúng tôi rơi vào một cảnh tối tăm khác. Những cuộc tình dễ dãi những mối quan hệ yêu đương bừa bãi những cảnh sống vợ chồng không hôn nhân... diễn ra trước mắt chúng tôi hàng ngày. Xa gia đình quê hương thiếu thốn tình cảm hoàn cảnh đẩy đưa... khiến không ít bạn trẻ chúng tôi thích nghi nhanh chóng với cách sống mới đi ngược lại với thuần phong mỹ tục của nền văn hoá truyền thống Á Đông. Nhiều người trong chúng tôi trở thành một thứ lai tạo oái ăm thay điều chúng tôi học hỏi được nhiều hơn không phải là điều tốt đẹp ở xứ người!

Tôi được sinh ra trong một gia đình có gốc đạo lâu đời. Cha mẹ tôi là những người nghiêm khắc. Các cụ giáo huấn con cái về lòng mến Chúa và xa lánh tội lỗi. Có lẽ nhờ thế cùng với lời cầu nguyện tôi đã tự bảo vệ được mình khỏi lối sống xô bồ của đám bạn cùng trang lứa. Hoa không nghe tôi nên tôi lại càng lo cho nó.

Hoa vẫn vùi đầu vào gối nức nở. Một lúc sau nó ngước lên đôi mắt đỏ hoe gương mặt dàn dụa nước mắt. Nó kể rằng sau khi Minh về nước trong một lần gọi điện cho Minh nó nghe giọng một người con gái trả lời. Chị ấy bảo là vợ của Minh. Nó bàng hoàng không tin vào tai mình. Nó nói rằng nó là người yêu của Minh Minh nói với nó anh ta chưa có vợ nó và Minh đã sống như vợ chồng bên này thậm chí nó đã có thai với Minh...

      - Thanh à! Tao nghe giọng chị ấy nghẹn lại thảng thốt. Chị ấy bảo rằng những điều tao nói làm lòng chị ấy tan nát. Chị ấy van xin tao rằng đều là đàn bà con gái với nhau tao đừng bịa chuyện làm hại chị ấy. Tao khóc và thề với chị ấy là tao nói thật. Chị ấy cũng khóc.

- Thế sau đó mày có gặp Minh không? - Tôi hỏi.

- Mấy ngày sau đó Minh tắt máy. Khi máy đổ chuông tao nghe chị ấy trả lời. Chị ấy bảo đã nói chuyện với Minh nhưng Minh nói không biết tao là ai. Tao yêu cầu được gặp Minh. Chị ấy bảo sẽ tìm dịp thuận tiện bởi vợ chồng chị ấy sống chung với ông bà chị không muốn những chuyện như thế này đến tai các cụ sợ họ phiền lòng. Thế rồi tối nay chị ấy gọi tao bảo tao có thể nói chuyện với Minh. Thanh ơi! Mày biết không? Minh bảo rằng không biết tao là ai bảo tao đừng làm ba trò vớ vẩn đi phá hạnh phúc của người khác. Rồi mặc cho tao gào lên trong điện thoại anh ta tắt máy. Tức tối tao bấm máy gọi lại liên tiếp nhưng không ai nghe. Đau khổ tuyệt vọng tao chỉ còn biết tìm đến đây... Thanh ơi! Tao ân hận lắm. Tao đã không nghe mày. Tao chỉ biết lao đầu vào yêu mà không biết cầu nguyện. Tao cũng có lúc đi xưng tội rước lễ. Nhưng chỉ được mot thời gian ngắn rồi tao lại buông thả mình. Minh thỉnh thoảng có đi lễ với tao nhưng không bao giờ tao thấy anh ta xưng tội rước lễ. Tao không hề biết rằng anh ta đang lừa dối tao...

Một cảm giác nặng nề xâm chiếm lòng tôi. Hình như có ai đó đang bóp nghẹt tim tôi. Đau với nỗi đau riêng của nó. Đau cả với nỗi đau của Giáo Hội. Nếu còn nhiều bạn trẻ Công giáo vẫn sống trong vòng mê đắm như thế làm sao giới thiệu được gương mặt thánh thiện của Hội Thánh với mọi người?

Mấy ngày sau tôi đến thăm nó. Trông nó hốc hác tiều tuỵ hẳn! Nó nói rằng vợ Minh đã gọi điện lại cho nó bảo rằng chị ấy tin chồng bảo nó đừng liên lạc gì với Minh nữa. “Thanh ạ! Tao chửi mắng nguyền rủa Minh thậm tệ. Chị ấy vẫn yên lặng lắng nghe. Cuối cùng chị ấy  nói với tao rằng: “Nếu điều em nói là đúng thì Minh thật tệ bạc. Anh ấy sẽ không được thanh thản đâu suốt đời sẽ day dứt khổ sở vì những gì mình đã gây ra. Nhưng em cũng hãy xem lại mình trong chuyện này lỗi phần nhiều là ở em. Em là con gái em chưa tìm hiểu kỹ người ta mà đã vội trao thân cho họ. Em sống dễ dãi quá nên vấp ngã là điều dễ hiểu thôi. Cuộc đời phía trước em còn dài chị mong em biết tự sửa mình. Cầu mong điều tốt đẹp sẽ đến với em.” Thanh ơi! Tao đau... Tao nhục quá! Tao chỉ còn muốn chết thôi...

Tôi xót xa nhìn vẻ mặt đầy đau khổ dằn vặt của nó. Trái cấm mà nó đã ăn có lẽ nó không ngờ đến ngày lại nhận ra vị đắng đến thế!

Tôi cũng lo âu cho người phụ nữ kia người vợ của Minh. Chị sẽ tiếp tục xây dựng hạnh phúc gia đình thế nào khi niềm tin bị đổ vỡ và với một trái tim bị tổn thương?

Bất giác tôi nghĩ về gương khiết tịnh của Thánh Giuse và Mẹ Maria. Phải chăng khi đánh mất đức khiết tịnh con người cũng đánh mất luôn cả sự bằng an trong tâm hồn?

More...

Chùm thơ sưu tầm văn học dân gian.

By Phan Đình Phùng

 

 

 

CHÙM THƠ SAU CHUYẾN SƯU TẦM VĂN HỌC DÂN GIAN

Ở VẠN LONG – VẠN NINH – KHÁNH HOÀ

 

 

Về miền đất lạ

 

Tàn năm canh giấc chẳng lành

Hừng đông vừa rạng Quy Thành xôn xao

Quy Nhơn đại học đón chào

Chuyến xe ngày mới xiết bao vui mừng.

 

Chín hai khuôn mặt tưng bừng

Ngữ văn sư phạm ngập ngừng ba hai

Vui cười nét mặt bác tài

Hai nhà giáo ánh ban mai rạng ngời.

 

Ngày xuân hoa nở tươi cười

Chín hai nhịp đập bồi hồi miền xa

Vòng xe lăn bánh đưa ta

Về miền đất lạ quê nhà  Vạn Ninh.

 

Vui cùng nắng mới lung linh

Chao chao cơn gió rung rinh nhạc lòng

Xe dừng nơi ấy Vạn Long

Ta nghe lắng những giọt lòng hương quê.

 

 

 

 

 

 

 

Hành trình về với văn học dân gian

 

“Tiếng đồn Bình Định tốt nhà

Phú Yên tốt ruộng Khánh Hoà tốt trâu”

Vạn Ninh xanh ngắt một màu

Trên triền xuân sắc đua nhau hương thầm.

 

Nghệ nhân hớn hở trong tâm

Bao câu chuyện kể bên mâm rượu đầy

Dạt dào tình nghĩa nơi đây

Chiều hong giọt nắng sum vầy nghĩa nhân.

 

“Ngó ra Hòn Lớn ba lần

Thấy anh ở trần trong dạ xót xa

Em về mua lụa đậu ba

May áo cổ giữa gởi ra cho chàng”.

 

Tôi về suy nghĩ miên man

Lật trang giấy trắng vội vàng chuyện xưa

Những chiều thực tế dưới mưa

Cụ già kể chuyện ngày xưa tỏ tường.

 

“Khánh Hoà là xứ trầm hương

Non cao biển rộng người thương đi về

Yến sào mang đậm tình quê

Sông sâu đá tạc lời thề nước non”.

 

Vạn Long miền đất vun tròn

Tình sâu nghĩa nặng mãi còn luyến lưu

Xa xăm trong ánh trời chiều

Câu hò điệu lý thêm yêu xứ người.

 

Chiều nay lóng lánh mưa rơi

Sóng thời gian vỗ nhịp đời xa xăm

Tu Bông xứ gió hương trầm

Quy Nhơn đất mẹ tình thâm giao hoà.

 

 

 

 

 

 

Tu Bông…gió và mưa

 

“Mưa Đồng Cọ gió Tu Bông”

Những ngày tôi đến bâng khuâng ngỡ ngàng

Hỏi vì sao? Gió lan man

Ùa vào làn tóc cô nàng ngây thơ.

 

Chiều xuân hoa cỏ bâng quơ

Gió ơi gió! Gió vu vơ gió về

Đường làng dịu dịu chân quê

Cùng ai dạo bước đi về hoàng hôn.

 

Gió xôn xao thổi từng cơn

Hồn thiêng sông núi hội cơn gió hồng

“Gió đâu bằng gió Tu Bông”

Hiền hoà mát lịm như dòng kênh xanh.

 

Vô tư mưa đổ long lanh

Những trưa gió cuộn đã thành mưa xa

Thì thầm đếm nhịp tháng ba

Mưa thời gian đổ như là mưa đông.

 

Mưa rì rào mưa Tu Bông

Chẳng lời mà vọng tiếng đồng hương quê

Liêu xiêu xe đạp đi về

Lúa xanh mơn mởn mân mê dậy thì.

 

Chòng chành chẳng muốn bước đi

Lặng nghe từng giọt thầm thì cỏ hoa

Khúc ru vọng nhịp chan hoà

Ngân vang giọt nước giao thoa đất trời.

 

Tu Bông mảnh đất tình người

Mười ngày chưa đủ giọt thời gian trôi

Tôi về bổi hổi bồi hồi

Và mưa và gió…xa rồi Tu Bông.

 

Quy Nhơn 3/2011

Vi Ánh Ngọc

More...

Cô gái Bình Định trong ca dao (Lê Từ Hiển).

By Phan Đình Phùng

 

 

 

CÔ GÁI BÌNH ĐỊNH TRONG CA DAO

 

Bản sắc lịch sử địa lý văn hoá của sứ sở hun đúc tạo nên truyền thống tính cách con người. Nếu Xuân Diệu - có lần “ mạo muội ” nhận xét có một cô gái rất độc đáo trong chất thơ trong chất sống chất tình ở đây thì có lẽ ông vua thơ nhạy cảm này cũng đã thấy cái “ độc đáo ” ấy trong hình tượng người phụ nữ Bình Định. Và nếu nói rằng thượng võ hào hùng và tình sâu nghĩa nặng là hai nhân tố cơ bản quyện vào nhau trong cốt cách truyền thống của người Bình Định thì đều có in đậm dấu trong hình tượng cô gái Bình Định mà ca dao đã ghi lại

Ai về Bình Định mà coi
Con gái Bình Định bỏ roi đi quyền

Tinh thần thượng võ hào hùng ấy của người phụ nữ mà ngày nay ta gọi nết đẹp khỏe. Xét cho cùng cũng truyền thống chung của người phụ nữ Việt Nam anh hùng bất khuất... “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”. Tinh thần ấy được gắn liền với mảnh đất Tây Sơn với nữ tướng Bùi Thị Xuân.

Ai về Bình Định mà coi
Coi bà nữ tướng cưỡi voi đánh cồng

Âm vang hào hùng đầy dũng khí ấy đã được phát huy trong cuộc kháng chiến diệt Tây đuổi Mỹ “Về xem con gái Định Quang- Tay bồng tay bế ra đàng đánh Tây”.

Nét đẹp ấy của cô gái Bình Định tưởng chừng như mâu thuẫn với “nữ tính dịu dàng đằm thắm chịu khó chịu thương. Nhưng không họ lại rất chất phát như vùng đất của lúa khoai nuôi họ lớn mặn mà đằm thắm như vị mặn của biển Đông của đầm Thị Nại sống chắt chiu nhưng biết hy sinh phóng khoáng như cái hiu hiu cái man mác của gió nồm ru hời suốt một dải dài duyên hải.

Là người Bình Định chắc ai cũng đã từng một lần nghe ru...như một lời hoài niệm nhớ về ước mong :

Chiều chiều ai đứng ngõ ta
Quần đen áo trắng nết na dịu dàng

Ấy là cái đẹp đến mức “cổ điển” của cô gái Bình Định xưa đã từng là niềm tự hào của phái đẹp và làm bao “đấng mày râu” phải siêu lòng! Không hiếm và rất được đề cao những bông hoa “sắc nước hương trời” “ kiểu ” những người con mắt lá răm lông mày lá liễu đáng trăm quan tiền nhưng căn bản nét đẹp cô gái Bình Định xưa tựu trung là cái duyên

Vô duyên dầu bận áo sa
Áo ra đằng áo người ra đằng người
Có duyên dầu bận áo tời
Đầu đội nón cời duyên vẫn hoàn duyên

Duyên ấy là sự dịu dàng ý tứ “ Chim khôn kêu tiếng rảnh rang. Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe”. Cái duyên ấy có khi là một chút trêu ngươi “ Tóc tới lưng vừa chừng em bới - Để chi dài bối dối dạ anh ”. Cái duyên bao hàm sự dịu dàng nhỏ bé. Nam bộ nói dễ thương “ nước chảy liu riu - Lục bình trôi ríu ríu - Anh thấy em nhỏ xíu anh thương ”. Người Bình Định cũng nói :

Khuất bóng đèn lan anh nhìn nàng không rõ
Thấy dạng em ngồi còn nhỏ anh thương.

Hóa ra những “ đấng mày râu ” lại thường đi tìm yêu cái nhỏ bé. Cô gái Bình Định xưa có sức hấp dẫn kỳ lạ như thế cũng phải:

Thấy em nhỏ thó lại có duyên ngầm
Anh phải lòng thầm đã mấy năm nay

Người con gái Bình Định xưa chẳng những đẹp trong dung mạo còn vẹn toàn trong tư chất tâm hồn. Họ chịu nhiều thiệt thòi trong tình yêu trong chuyện lứa đôi vì bao lẽ... Nhưng căn bản họ sống hết mực ân tình ngay cả những khi bị bạc đãi:

Anh cầm cây viết anh dút đường nhơn nghĩa
Em cầm cây kim em thêu chữ ân tình

Đọc câu này Xuân Diệu phải kêu lên “ Cây bút ở đây sao mà bạc ác muốn bỏ ai thì bỏ không cần đủ lý do cây kim ở đây sao mà nhẫn nại cực nhục... Cây bút và cây kim hai câu thơ mà nói cái kiếp phụ nữ trong xã hội phong kiến nói tội nghiệp vì nói cao cả của họ. “ Yêu họ cũng đi im lặng đằm thắm tự trải lòng mình trong nỗi nhớ ”.

Anh về Đập Đá Gò Găng
Để em kéo sợi đêm trăng một mình

Và trong cuộc sống gian lao họ luôn giành phần thiệt âm thầm hy sinh đến tội nghiệp.

Trời mưa ướt núi ướt rừng
Ướt em em chiụ xin đừng ướt anh

Chắc cũng không phải ngẫu nhiên trên mảnh đất ân tình này thiên nhiên lại khéo tạo dáng đứng Vọng Phu “ Núi Bà một dãy xanh xanh-Vọng Phu còn đó sao anh chẳng về ? ”. Dịu dàng đằm thắm thủy chung và đầy ý tứ là thế nhưng cô gái Bình Định cũng không kém sự mãnh liệt sắc sảo:

Tam Quan ngọt nước dừa xiêm
Cha từ mẹ bỏ vẫn tìm theo anh

Cô gái Bình Định cũng thật ý tứ dễ thương như cô gái Nam bộ nào đó “ngắt ngò thương anh đứt ruột giả đò nói lơ”...

Sớm mai xách rổ nhổ ngò
Lòng thương chú thợ giả đò lượm dăm.

Và ! “Giả đò mua kén bán tơ – Đi ngang qua ngõ rơi thơ cho chàng !”. Quả là những sự “giả đò” đến dễ thương các “chàng” đến “dễ chết”... Cô gái Bình Định có duyên ngầm nên cũng có cái “bạo ngầm” :

Trèo lên cây khế bẻ bông
Bước đến trường học thấy đông dậm dày
Phải chi em không sợ ông thầy
Em vô cầm bút viết chữ này cho anh.

Có vẻ “ Củ mì ” đấy nhưng coi chừng ! Chọc vào họ không kém “ đanh đá ”:

Chiều chiều mây phủ Đá Bia
Đá Bia mây phủ chị kia mất chồng
Mất chồng tôi chẳng có lo
Sợ anh mất vợ nằm co một mình

Ý tứ nhưng ai bảo cô gái Bình Định xưa chẳng đáo để “ vô cùng ”:

Chuột kêu chút chít sau rương
Anh đi cho khéo đụng giường mẹ hay.

Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam thường gắn liền với chiếc nón như biểu tượng của nữ tính và mang bản sắc địa phương. Song không phải là hình ảnh chiếc nón như một biểu hiện cho dáng vẻ e ấp của cô gái Sông Hương sứ Thần kinh càng không phải cái dằm mà rộn cái dịu mà kiêu cái sắc mà có chút “ lẳng lơ ” của cái “ nón quai thao ” “ nón ba tầm ” trong hội hè của cô gái Bắc Hà-Đàng ngoài nón Bình Định là biểu tượng của sự làm tin của niềm gắn bó. Bên cạnh “ lãnh An Thái khăn trầu nguồn ” muốn cưới nàng không thể thiếu “ đôi nón Gò Găng ”. Nón Bình Định-nón Gò Găng với cô gái Bình Định xưa là biểu tượng của sự thuỷ chung “Gò Găng có nón chung tình - Ở đây có thiếp một dạ với mình mình ơi” của hình ảnh lứa đôi “giàu sang chung hưởng đói nghèo chung lo”.

Chàng đi đường đâu gặp khó khăn
Cũng sao ghé lại Gò Găng quê mình
Vào đây em tặng nón chung tình
Hình chàng bóng thiếp in hình đôi ta.

Những tính cách riêng - chung qua thời gian có thể còn mất. Nhưng phải chăng bản chất đáng yêu kia vẫn như dòng sữa mẹ ngàn đời chảy trong huyết quản nuôi nên những người con đầy tính cách thượng võ hào hùng và đằm thắm ân tình của mảnh đất này.

Lê Từ Hiển

More...

Phân tích nhân vật Tràng trong "Vợ nhặt" của Kim Lân.

By Phan Đình Phùng

alt

 

 

 

Phân tích nhân vật Tràng trong "Vợ nhặt" của Kim Lân

 

DÀN Ý PHÂN TÍCH

2. Phân tích nhân vật Tràng.


Mở đầu tác phẩm Vợ nhặt là bức tranh ngày đói. Chỉ vài nét vẽ phác thảo nhà văn đã vẽ nên bức tranh ngày đói thật hãi hùng. Xóm ngụ cư chìm trong bóng đêm chết chóc tăm tối ảm đạm. Ở đây thiếu vắng sự sống hoặc sự sống le lói như ngọn đèn trước gió.Hai lần nhà văn so sánh người với ma.Bằng chứng là " Hai bên dãy phố úp súp tối om không nhà nào có ánh đèn lửa". Người sống thì " lũ lượt dắt díu bồng bế nhau lên xanh xám như những bóng ma" hoặc " dưới những gốc đa gốc gạo xù xì bóng những người đói đi lại dật dờ lặng lẽ như những bóng ma". Người chết thì như ngả rạ không một sáng nào đi làm đồng hoặc đi chợ người ta lại không thấy ba bốn cái thây người nằm còng queo ở bên vệ đường. Mùi tử khí nồng nặc. Tác giả còn tô đậm bức tranh hơn nữa bởi hình ảnh của bầy quạ đen chờ chực để rỉa xác người chết. Cõi âm và cõi dương nhạt nhòa. Tất cả đang đứng bên bờ vực của cái chết.
Trên cái nền chết chóc ấy một buổi chiều người ta thấy Tràng về với một người đàn bà nữa. Ai vậy ? Đó là vợ Tràng. Điều không thể tin lại phải tin trong tác phẩm của Kim Lân. Vậy Tràng là ai ? Tràng lấy vợ như thế nào ?

a/ Lai lịch
- Xuất thân: dân ngụ cư làm nghề đẩy xe bò thuê nuôi mẹ già. Dân ngụ cư là những người vốn từ nơi khác đến. Vì thế dân ngụ cư không có ruộng đất chỉ đi làm thuê làm mướn. Đã vậy họ còn bị phân biệt đối xử thường phải ở nơi bìa làng hoặc ở chỗ hẻo lánh. Nhà cửa của anh ta cái được gọi là "nhà" thì luôn "vắng teo đứng rúm ró trên mảnh vườn mọc lổn nhổn những búi cỏ dại". Hơn nữa vì là dân ngụ cư Tràng bị coi khinh chẳng mấy ai thèm nói chuyện trừ lũ trẻ hay chọc ghẹo khi anh ta đi làm về.


b/ Ngoại hình:
- Tràng có ngoại hình xấu xí thô kệch. Đầu trọc nhẵn hai con mắt nhỏ tí gà gà quai hàm bạnh ra cái lưng to rộng như lưng gấu đi thì cứ chúi đầu về phía trước lại hay nói lầm bầm trong miệng khi cười thì ngửa mặt lên cười hềnh hệch.


Nhận xét: Tràng là một nông dân nghèo khổ lại xấu xí. Nếu như trong thời bình Tràng thuộc típ người khó có khả năng lấy vợ. Nhưng điều đó lại xảy ra vào đúng cái nạn đói khủng khiếp. Tràng lấy được vợ hay nói đúng hơn là "nhặt được vợ".

c/ Tình huống nhặt vợ của Tràng (diễn biến tâm lí)

+ Thật ra ban đầu Tràng không chủ tâm tìm vợ. Tràng cũng thừa biết người như hắn thì không thể có vợ. Khi đẩy xe bò mệt mỏi anh chỉ hò một câu cho vui " Muốn ăn cơm trắng mấy giò này/ Lại đây mà đẩy xe bò với anh nì". Tràng chỉ muốn hò để xua đi mỏi mệt trong người. Anh cũng chẳng có ý chòng ghẹo ai cả. Ai ngờ có người đàn bà đói xông xáo đến đẩy xe thật. Nhưng vì đùa vui nên Tràng đã không giữ đúng thỏa thuận của câu hò. Nhưng Tràng cảm thấy hạnh phúc biết bao khi gặp được cái "cười tít mắt của thị" bởi "từ xưa đến giờ có ai cười với hắn một cách tình tứ như vậy đâu".

+ Hôm sau gặp lại: Khi Tràng đang ngồi nghỉ trước cổng chợ tỉnh thì bất ngờ có người đàn bà sầm sập chạy đến cong cớn sưng sỉa với hắn " Điêu người thế mà điêu". Tràng không nhận ra người đàn bà ngày trước đẩy xe cho mình. Trước mặt hắn là một người đàn bà thảm hại đã bị cái đói tàn hại cả nhan sắc lẫn nhân cách. Thị gầy sọp hẳn đi ngực gầy lép khuôn mặt lưỡi cày hốc hác quần áo rách như tổ đỉa. Thấy người đàn bà đói rách rưới thảm hại. Tràng động lòng thương. Có ai ngờ được rằng trong con người thô kệch ấy lại có một tấm lòng thương người cao cả. Thế rồi Tràng cho người đàn bà kia ăn không chỉ ăn mà còn cho ăn rất nhiều " bốn bát bánh đúc". Đó chính là lòng thương một con người đói khát hơn mình chứ Tràng không hề có ý định lợi dụng hoặc chòng ghẹo.



Vốn tính hay đùa Tràng lại tầm phơ tầm phào "Nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân đồ lên xe rồi về". Nói đùa thế thôi ai ngờ thị về thật. Lúc đầuTràng phảng phất lo sợ về cái đói và cái chết"mới đầu anh cũng chợn nghĩ: thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không lại còn đèo bòng". Đó là nỗi sợ hãi có thật nhất lại là thời đói kém như thế này. Nhưng có lẽ tình thương người và khát vọng hạnh phúc đã lớn hơn nỗi sợ hãi nên sau đó anh chặc lưỡi " Chậc kệ!" . Chỉ một từ "kệ" thôi Tràng như đã bỏ lại sau lưng mình tất cả nỗi sợ hãi mọi lo nghĩ để vun vén cho cái hạnh phúc của mình.

Bình luận: Tràng và người đàn bà kia như hai cành củi khô nhưng họ đã chụm vào nhau để nhen lên ngọn lửa. Tội nghiệp thay người này thì cần hạnh phúc còn người kia thì lại cần chỗ dựa. Một người vì tình yêu người kia vì miếng ăn. Nói tóm lại là họ LIỀU nhưng cái Liều kia của họ làm người ta bật khóc. Bây giờ thì họ là người dũng cảm dũng cảm bởi vì họ dám nắm tay nhau để bước qua ranh giới của sự sống và cái chết. Họ làm ta khâm phục và kính trọng phải chăng hai con người khốn khổ ấy là niềm tin của Kim Lân về một giống nòi sẽ tiếp nối sẽ sinh sôi khi mà cả dân tộc đang đứng trước sự diệt vong của nạn đói ?


+ Khi người phụ nữ chấp nhận làm vợ Tràng đã có ý thức chăm sóc: hắn đưa thị vào chợ tỉnh bỏ tiền ra mua cho thị cái thúng con đựng vài thứ lặt vặt và ra hàng cơm đánh một bữa no nê... Anh còn mua 2 hào dầu để thắp sáng. Đó có vẻ như là sự cố gắng quá mức của Tràng nhưng cũng rất dễ hiểu vì Tr sắp được làm chồng.

+ Trên đường về: (khác với anh Tràng hôm qua buồn bã cúi mặt lo âu nghĩ ngợi). Hôm nay Tràng có niềm vui lạ một niềm hạnh phúc tràn ngập khiến mặt Tràng cứ "phớn phở khác thường". Thỉnh thoảng lại còn cười nụ một mình. Lúc thì hắn đi sát người đàn bà lúc lại lùi ra sau một tí hai tay cứ xoa vào vai nọ vai kia lại muốn nói đùa một câu lại cứ thấy ngường ngượng. Kim Lân đã làm người đọc thấy được sự thay đổi về tâm lí của Tràng. Tràng thật sự đã khác với Tràng hôm qua. Trong lòng Tràng tràn ngập niềm vui sướng miên man khiến "Trong một lúc Tràng hình như quên hết những cảnh sống ê chề tăm tối hằng ngày quên cả cái đói khát ghê gớm đang đe dọa quên cả những tháng ngày trước mặt. Trong lòng hắn bây giờ chỉ còn tình nghĩa giữa hắn với người đàn bà đi bên. Một cái gì mới mẻ lạ lắm chưa từng thấy ở người đàn ông nghèo khổ ấy nó ôm ấp mơn man khắp da thịt Tràng tựa hồ như có bàn tay vuốt nhẹ dọc sống lưng" . Thế là rõ rồi: Hạnh phúc đang làm anh thay đổi.


+ Khi về đến nhà lúc đầu Tràng thấy " ngượng nghịu" rồi cứ thế " đứng tây ngây ra giữa nhà chợt hắn thấy sờ sợ". Nhưng đó chỉ là cảm giác thoáng qua thôi. Hạnh phúc lớn lao quá khiến Tràng lại lấy lại được thăng bằng nhanh chóng. Lúc sau Tràng tủm tỉm cười một mình với ý nghĩ có phần ngạc nhiên sửng sốt không dám tin đó là sự thật: "hắn vẫn còn ngờ ngợ như không phải thế. Ra hắn đã có vợ rồi đấy ư ?". Đó là sự ngạc nhiên trong sung sướng.

+ Lúc chờ đợi Mẹ về:Tràng nóng ruột đi đi lại lại. Chưa bao giờ người ta thấy hắn nôn nóng như thế. Khi mẹ về hắn mừng rỡ rối rít như trẻ con vì dù sao Tràng vẫn còn có mẹ - đó là đấng tối cao của Tràng vì chỉ có mẹ mới quyết định được hạnh phúc của hắn. Tràng nóng lòng thưa chuyện với mẹ. Bắt mẹ ngồi lên giường để thưa chuyện. Khi được đồng ý Tràng thở đánh phào một cái nhẹ cả người. Thế là Tràng đã có gia đình có vợ không tốn tiền cưới hỏi Tràng lấy được vợ thật hiển hách.
+ Sau khi lấy vợ Tràng trở thành một người sống có trách nhiệm biết suy nghĩ chín chắn. Nhà văn đã mang đến cho người đọc hơi thở mới của Tràng vào sau cái đêm tân hôn. Tràng thức dậy đầu tiên đó là một cảm giác dễ chịu "Trong người êm ái lửng lơ như người vừa ở trong giấc mơ đi ra". Đó là tâm trạng hạnh phúc. Tràng cảm động khi thấy mẹ và vợ dọn dẹp lại nhà cửa nhất là khi nghe tiếng chổi tre quét từng nhát sàn sạt trên sân. Một nỗi lòng yêu thương một nguồn vui sướng phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng "Bỗng nhiên hắn thấy hắn thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng. Hắn đã có một gia đình. Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy. Cái nhà như cái tổ ấm che mưa che nắng".

+Từ một anh phu xe cục mịch sống vô tư chỉ biết việc trước mắt Tràng đã là người quan tâm đến những chuyện ngoài xã hội và khao khát sự đổi đời. Khi tiếng trống thúc thuế ngoài đình vang lên vội vã dồn dập Tràng đã thần mặt ra nghĩ ngợi đây là điều hiếm có đối với Tràng xưa nay. Trong ý nghĩ của anh lại vụt hiện ra cảnh những người nghèo đói ầm ầm kéo nhau đi trên đê Sộp để cướp kho thóc của Nhật và đằng trước là lá cờ đỏ. Tràng nhớ tới cảnh ấy và lòng ân hận tiếc rẻ và trong óc vẫn thấy đám người đói và lá cờ bay phấp phới... ( giá trị nhân đạo tác giả mở ra con đường sống cho những con người đang đứng bên bờ vực của cái chết đó là chỉ có đi theo cách mạng mới giải phóng được cho họ)


Kết luận: Qua sự biến đổi tâm trạng thấy được vẻ đẹp tâm hồn tính cách nhân vật đó là tình thương niềm khao khát hạnh phúc niềm lạc quan tin tưởng vào tương lai và thấy được tình cảm nhân đạo cuả nhà văn dành cho người lao động nghèo khổ.

More...

Ảnh: 12A7 - HỘI NGỘ XUÂN TÂN MÃO 2011.

By Phan Đình Phùng

LỚP 12A7 (NIÊN KHÓA 2005 - 2008) - TRƯỜNG THPT SỐ 2 PHÙ MỸ - BÌNH ĐINH - HỘI NGỘ XUÂN TÂN MÃO 2011.

PHẦN LƯU LUYẾN: CHIA TAY TẠI NHÀ "TUI"

 

 

 

 

 

 

 

 

More...

Phân tích nhân vật Huấn Cao trong "Chữ người tử tù" của Nguyễn Tuân.

By Phan Đình Phùng

alt

 

Phân tích nhân vật Huấn Cao trong "Chữ người tử tù" của Nguyễn Tuân

 

Nguyễn Tuân một nhà văn nổi tiếng của làng văn học Việt Nam; có những sang tác xoay quanh những nhân vật lí tưởng về tài năng xuất chúng về cái đẹp tinh thần như “chiếc ấm đất” “chén trà sương”… và một lần nữa chúng ta lại bắt gặp chân dung tài hoa trong thiên hạ đó là Huấn Cao trong tác phầm Chữ người tử tù.
Nhà văn Nguyễn Tuân đã lấy nguyên mẫu hình tượng của Cao Bá Quát vớI văn chương “vô tiền Hán” còn nhân cách thì “một đời chỉ cúi đầu trước hoa mai” làm nguồn cảm hứng sang tạo nhân vật Huấn Cao. Họ Cao là một lãnh tụ nông dân chống triều Nguyễn năm 1854. Huấn Cao được lấy từ hình tượng này với tài năng nhân cách sang ngời và rất đỗI tài hoa.
Huấn Cao là một con người đại diện cho cái đẹp từ cái tài viết chữ của một nho sĩ đến cái cốt cách ngạo nghễ phi thường của một bậc trượng phu đến tấm long trong sang của một người biết quý trọng cái tài cái đẹp.
Huấn Cao với tư cách là người nho sĩ viết chữ đẹp thể hiện ở cái tài viết chữ. Chữ viết không chỉ là kí hiệu ngôn ngữ mà còn thể hiện tính cách của con người. Chữ của Huấn Cao “vuông lắm” cho thấy ông có khí phách hiên ngang tung hoành bốn bể. Cái tài viết chữ của ông được thể hiện qua đoạn đối thoại giữa viên quản ngục và thầy thơ lại. Chữ Huấn Cao đẹp và quý đến nỗi viên quản ngục ao ước suốt đời. Viên quản ngục đến “mất ăn mất ngủ”; không nề hà tính mạng của mình để có được chữ của Huấn Cao “một báu vật trên đời”. Chữ là vật báu trên đời thì chắc chắn là chủ nhân của nó phải là một người tài năng xuất chúng có một không hai là kết tinh mọi tinh hoa khí thiêng của trời đất hun đúc lại mà thành. Chữ của Huấn Cao đẹp đến như vậy thì nhân cách của Huấn Cao cũng chẳng kém gì. Ông là con người tài tâm vẹn toàn.
Huấn Cao trong cốt cách ngạo nghễ phi thường của một bậc trượng phu. Ông theo học đạo nho thì đáng lẽ phải thể hiện lòng trung quân một cách mù quáng. Nhưng ông đã không trung quân mà còn chống lại triều đình để giờ đây khép vào tội “đại nghịch” chịu án tử hình. Bởi vì Huấn Cao có tấm lòng nhân ái bao la; ông thương cho nhân dân vô tội nghèo khổ lầm than bị áp bức bóc lột bởi giai cấp thống trị tàn bạo thối nát. Huấn Cao rất căm ghét bọn thống trị và thấu hiểu nỗi thống khổ của người dân “thấp cổ bé họng”. Nếu như Huấn Cao phục tùng cho bọn phong kiến kia thì ông sẽ được hưởng vinh hoa phú quý. Nhưng không ông Huấn đã lựa chọn con đường khác : con đường đấu tranh giành quyền sống cho người dân vô tội. Cuộc đấu tranh không thành công ông bị bọn chúng bắt. Giờ đây phải sống trong cảnh ngục tối chờ ngày xử chém. Trước khi bị bắt vào ngục viên quản ngục đã nghe tiếng đồn Huấn Cao rất giỏi võ ông có tài “bẻ khoá vượt ngục” chứng tỏ Huấn Cao là một người văn võ toàn tài quả là một con người hiếm có trên đời.
Tác giả miêu tả sâu sắc trạng thái tâm lí của Huấn Cao trong những ngày chờ thi hành án. Trong lúc này đây khi mà người anh hùng “sa cơ lỡ vận” nhưng Huấn Cao vẫn giữ được khí phách hiên ngang kiên cường. Tuy bị giam cầm về thể xác nhưng ông Huấn vẫn hoàn toàn tự do bằng hành động “dỡ cái gông nặng tám tạ xuống nền đá tảng đánh thuỵch một cái” và “lãnh đạm” khong thèm chấp sự đe doạ của tên lính áp giải. Dưới mắt ông bọn kia chỉ là “một lũ tiểu nhân thị oai”. Cho nên mặc dù chịu sự giam giữ của bọn chúng nhưng ông vẫn tỏ ra “khinh bạc”. Ông đứng đầu goong ông vẫn mang hình dáng của một vị chủ soái một vị lãnh đạo. Người anh hùng ấy dùng cho thất thế nhưng vẫn giữ được thế lực uy quyền của mình. Thật đáng khâm phục !
Mặc dù ở trong tù ông vẫn thản nhiên “ăn thịt uống rượu như một việc vẫn làm trong hứng bình sinh”. Huấn Cao hoàn toàn tự do về tinh thần. Khi viên cai ngục hỏi Huấn Cao cần gì thì ông trả lời:
“Người hỏi ta cần gì à? Ta chỉ muốn một điều là ngươi đừng bước chân vào đây nữa thôi”
Cách trả lời ngang tàn ngạo mạn đầy trịch thượng như vậy là bởi vì Huấn Cao vốn hiên ngang kiên cường; “đến cái chết chém cũng còn chẳng sợ nữa là...” Ông không thèm đếm xỉa đến sự trả thù của kẻ đã bị mình xúc phạm. Huấn Cao rất có ý thức được vị trí của mình trong xã hội ông biết đặt vị trí của mình lên trên những loại dơ bẩn “cặn bã” của xã hội.
“Bần tiện bất năng di uy vũ bất năng khuất”. Nhân cách của Huấn Cao quả là trong sáng như pha lê không hề có một chút trầy xước nào. Theo ông chỉ có “thiên lương” bản chất tốt đẹp của con người mới là đáng quý.
Thế nhưng khi biết được nỗi lòng viên quản ngục Húan Cao không nhữg vui vẻ nhận lời cho chữ mà còn thốt ra rằng :
“Ta cảm tấm lòng biệt nhãn liên tài của các ngươi. Ta biết đâu một người như thầy quản đây mà lại có sở thích cao quý đến như vậy. Thiếu chút nữa ta đã phụ một tấm lòng trong thiên hạ”.
Huấn Cao cho chữ là một việc rất hiếm bởi vì “tính ông vốn khoảnh. Ta không vì vàng bạc hay quyền uy mà ép cho chữ bao giờ”.
Hành động cho chữ viên quản ngụ chứng tỏ Huấn Cao là một con người biết quý trọng cái tài cái đẹp biết nâng niu những kẻ tầm thường lên ngang tàng với mình.
Quay cảnh “cho chữ” diễn ra thật lạ quả là cảnh tượng “xưa nay chưa từng có”. Kẻ tử từ “cổ đeo gông chân vướng xích” đang “đậm tô từng nét chữ trên vuông lụa bạch trắng tinh” với tư thế ung dung tự tại Huấn Cao đang dồn hết tinh hoa vào từng nét chữ. Đó là những nét chữ cuối cùng của con người tài hoa ấy. Những nét chữ chứa chan tấm lòng của Huấn Cao và thấm đẫm nước mắt thương cảm của người đọc. Con người tài hoa vô tội kia chỉ mới cho chữ ba lần trong đời đã vội vã ra đi để lại biết bao tiếc nuối cho người đọc. Qua đó tác giả Nguyễn Tuân cũng gián tiếp lên án xã hội đương thời đã vùi dập tài hoa của con người.
Và người tù kia bỗng trở nên có quyền uy trước những người đang chịu trách nhiệm giam giữ mình. Ông Huấn đã khuyên viên quản ngục như một người ca khuyên bảo con:
“Tôi bảo thực thầy quản nên về quê ở đã rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ. Ở đây khó giữ được thiên lương cho lành lắm rồi cũng có ngày nhem nhuốc mất cái đời lương thiện”.
Theo Huấn Cao cái đẹp không thể nào ở chung với cái xấu được. Con người chỉ thưởng thức cái đẹp khi có bản chất trong sáng nhân cách cao thượng mà thôi.
Những nét chữ cuối cùng đã cho rồi những lời nói cuối cùng đã nói rồi’ Huấn Cao người anh hùng tài hoa kia dù đã ra đi mãi mãi nhưng để lại ấn tượng sâu sắc cho những ai đã thấy đã nghe đã từng được thưởng thức nét chữ của ông. Sống trên cõi đời này Huấn Cao đã đứng lên đấu tranh vì lẽ phải; đã xoá tan bóng tối hắc ám của cuộc đời này. Chính vì vậy hình tượng Huấn Cao đã trở nên bất tử. Huấn Cao sẽ không chết mà bước sang một cõi khác để xua tan bóng tối nơi đó đem lại hạnh phúc cho mọi người ở mọi nơi.
Ở Huấn Cao ánh lên vẻ đẹp của cái “tài” và cái “tâm”. Trong cái “tài” có cái “tâm” và cái “tâm” ở đây chính là nhân cách cao thượng sáng ngời của một con người tài hoa. Cái đẹp luôn song song “tâm” và “tài” thì cái đẹp đó mới trở nên có ý nghĩa thực sự. Xây dựng hình tượng nhân vật Huấn Cao nhà văn Nguyễn Tuân đã thành công trong việc xây dựng nên chân dung nghệ thuật điển hình lí tưởng trong văn học thẩm mĩ. Dù cho Huấn Cao đã đi đến cõi nào chăng nữa thì ông vẫn sẽ mãi trong lòng người đọc thế hệ hôm nay và mai sau.

More...

Ảnh: 12A7 - HỘI NGỘ XUÂN TÂN MÃO 2011.

By Phan Đình Phùng

LỚP 12A7 (NIÊN KHÓA 2005 - 2008) - TRƯỜNG THPT SỐ 2 PHÙ MỸ - BÌNH ĐỊNH - HỘI NGỘ XUÂN TÂN MÃO 2011

PHẦN CUỐI: CHIA TAY TRONG HỘI NGỘ

 

 

 

 

 

 

 

More...