Thơ: MỘT NGÀY.

By Phan Đình Phùng

 

 

MỘT NGÀY

Một ngày cõi ấy không nhau

Một ngày cõi ấy ai sầu vì ai

Sông xanh thức trắng đêm dài

Một ngày cõi ấy nhạt phai má hồng.

Vi Ánh Ngọc

 

 

More...

Chùm thơ báo xuân Bình Định 2011.

By Phan Đình Phùng

 

 

 THƠ - BÁO XUÂN BÌNH ĐỊNH 2011

 

Thị trấn trăng sao

Tôi tìm năm tháng long lanh

trái vông đồng rụng góc thành đá ong

nẻo về đôi bóng song song

còn in dấu những rêu phong tháp đền

 

Cũng vòng xe ngựa chợ phiên

cũng mùi khói những ngọn đèn dầu hôi

bọt chè sủi ấm lên hơi

dăm quầng sóng khỏa thuyền rời bến không

 

Cũng là bè bạn thong dong

câu văn trong trẻo trí lòng vô tư

trăng sao chẳng biết cộng trừ

cũng thừa lan tỏa và dư nỗi niềm.

  • Nguyễn Thanh Mừng

 

 

 

Dưới bóng quê nhà

Sóng đập vào eo biển

rền trong tiếng gọi dậy mà đi

gieo hạt tình yêu

anh và bè bạn

vì độc lập tự do của quê hương

lớn lên cùng những đêm không ngủ

 

Thời gian đập vào anh

từ ngọn đèn dầu nhỏ nhoi

từ mái tranh nghèo

từ những vòng quay xe nặng nhọc

từ tiếng thở dài của mẹ

và dưới nấm mồ đôi mắt người em…

câu thơ vỡ òa ánh sáng

 

Chắt lời chân thật

những con chữ giản dị dịu dàng trầm tĩnh

khắc hình trái tim dưới bóng quê nhà

lặng lẽ ngân lên bài ca tình người tình bạn.

  • Bùi Thị Xuân Mai

 

 

 

 

Cõi người

Từ trong dâu bể đổi dời

Ngoảnh nhìn hoang vắng tiếng cười quạnh hiu

Cầm lên sương khói muôn chiều

Trăm năm soi bóng trước điều nghĩa nhân.

  • Trần Hoa Khá

 

 

 

 

Ngoài kia rừng trúc đã thu rồi

Rồi anh sẽ quên em như quên tiếng Sơn Ca ngày ấy

Ngoài kia rừng trúc đã thu rồi

Có người đàn bà đang gom những chiếc lá rơi

Dọn dẹp lỗi lầm nông nổi

Đốt lên ngọn nến mới

Ngọn nến bao dung.

 

Hình như em thấy em lạc giữa mùa xuân

Khỏa thân trên dòng sông số phận

Gió định mệnh thổi về bất tận

Con sóng nào xô cánh hoa trôi?

  • Văn Trọng Hùng

 

 

 

 

Nhớ ru nhau

Đêm gặp em

Là đêm anh về túp lều trăng tìm má

Mưa rơi xối xả phận người.

 

Đêm!

Muôn đêm rồi cầm giọt tình rơi

Lòng sấm động…

Hiên mưa anh ngồi khóc

Biết khỏa vào đâu

hình hài Cổ tích!

 

Theo mùa xuân

anh níu bóng trăng ngày.

 

Đêm gặp em…

Ngàn năm qua mình dân dã đời cày

Nâng niu câu thơ góc vườn hiện thực

Ngọn mầm xanh lắt lay mùa bấc

Lời ru thầm…

Mai mốt nhớ ru nhau!

  • Lê Ân

 

 

 

 

Khuya 1

em đẩy tôi qua miền kín gió

góc khuất nào còn than thở mãi

liên hồi tôi chiêm bao tôi

 

ủ trong chiều nắng nung ngột ngạt

gió vừa mọc lên lại thôi

đủ ủ mầm hy vọng

gần thế mà sao tôi nhớ đứng nhớ ngồi

 

xé toạc những thất lỡ

gói lại những đam mê

tôi bị chiều luộc chín từng khúc

bằng chiếc nồi áp suất nhớ nhung

 

thiên thần của tôi ơi

trói buộc gì tôi vào góc tối này

chiều ngả nghiêng say trên những hàng cây bụi

một mình khuya

nhà mình cứ ngỡ nhà ai

bật lên tiếng nấc

thở dài.

  • Phạm Đương

 

 

 

 

Những bông hoa trắng muốt…

Bao lâu rồi nhỉ

bao lâu

đôi bướm chập chờn bím tóc

gửi em lại bên anh

tung cánh giấc mơ hồ điệp

 

Bàn chân anh

những đâu

núi sông không kể xiết

vừa đặt lên bậu cửa nhà mình

lập tức một người nhận biết

 

Đón em

đôi tay rộng mở

lồng ngực đại ngàn

trập trùng vó ngựa

 

Gọi tên nhau

thật khẽ

băng giá tan nhanh

những bông hoa trắng muốt đầu xuân

run rẩy nở

 

Những con đường chắp cánh bởi trời cao

bao la ơi

này mây xanh

này gió…

  • Trần Thị Huyền Trang

 

 

 

 

Tháng Giêng

Cuộc sống cân bằng như nước khỏa lấp mọi khát mong như nụ hoa rụng rồi lại nở tháng giêng mộng mị cuộc tình …

tóc em mười lăm hai mươi hay là trăm năm nữa vẫn không thôi dài không hết đa đoan…

mắt em mười lăm hai mươi hay là trăm năm nữa vẫn không thôi buồn không hết mênh mông…

dài con sông xa xăm tiếng hót hun hút chân trời ngọn gió em mộng mị từ bi dòng Quai Vạc lẻ loi đời một nỗi Mò - O…

con đò nhỏ bây giờ đâu nữa bến Trường Thi bến Gỗ chẳng còn chân đất mấy tầng xe ngựa tiễn đưa sương giá mây ngàn…

em áo tím áo hồng hoa trà hoa sim nữa… cứ thủy chung đừng mặc cả làm gì dẫu chín nẫu bên đường nương sương khói bóng câu tăm cá… ta mộng du lễ phật lễ chùa một chiếc đò lúng liếng mắt em đưa…

  • Mai Thìn

 

 

 

 

Về với em

Nhiều năm xa xứ sở

Nhớ cánh én quê nhà

Phiên chợ đào thắm đỏ

Cuối chiều Đông rét căm.

 

Một năm rồi nhiều năm

Đã bao mùa lỗi hẹn

Triền cỏ xuân xanh mướt

Chú nhện ngồi vá may…

 

Chuyến xe Tết chiều nay

Hành hương về phương Bắc

Mang theo sắc mai vàng

Sưởi ấm mùa nhớ thương.

  • Đặng Thiên Sơn

 

 

 

 

Gõ cửa mùa xuân

Gõ cửa mùa xuân

Là tiếng chim ríu rít ngày xanh thơ ấu

Thức dậy ký ức làng quê

Bầu trời vỡ ra ngàn hạt nắng

Long lanh những khát khao

 

Cất giấu niềm trăn trở vào đêm giá rét

Giọt sương phập phồng lời chúc ước vọng

Một ban mai tinh khiết

Một ban mai mướt xanh

Căng tràn hơi thở rạ rơm

Nồng thơm lồng ngực thanh tân

Giàn bầu bí hé những nụ cười vàng rực

 

Tôi gõ cửa mùa xuân

Bằng trái tim ngập ngừng thôn nữ

Từ tiếng mõ trâu cha dắt tôi ra đồng

Từ làn khói bếp mẹ nuôi tôi khôn lớn

Bay lên

Bay lên

Tận chân trời xanh.

  • Nguyễn Thanh Xuân

 

 

 

 

Cảm xúc mùa xuân

Lặng nhìn biển sớm mênh mang

Tàu vào bến đã còi vang chân trời

Thuyền câu nhẹ lướt chơi vơi

Thì thầm tiếng sóng như lời tình yêu

Nhà cao theo những cánh diều

Và mơ ước biết bao nhiêu lặng thầm

Trời xuân rộn tiếng thơ ngâm

Đất xuân hy vọng nảy mầm trong tim.

  • Phan Thị Tường Vân

More...

PHÁT BIỂU CẢM NGHĨ VỀ NHÀ THƠ NGUYỄN DU.

By Phan Đình Phùng

 

 

 

  PHÁT BIỂU CẢM NGHĨ VỀ NHÀ THƠ NGUYỄN DU

 





Điều đầu tiên khiến tôi yêu quý và kính trọng Nguyễn Du chính là tình cảm của ông dành cho con người. Ông là con người có tấm lòng nhân hậu. Có lẽ đây chính là yếu tố quan trong để ông có được những tác phẩm văn học chứa đựng những giá trị nhân đạo sâu sắc. Người thi nhân đa đoan viên quan đại thần dòng dõi của triều Lê ấy không biết đã bao lần "Khéo dư nước mắt khóc người đời xưa". Chính ông đã tự nhận ra rằng người thi nhân bất hạnh bởi thi nhân luôn là người tự vận nỗi đau nỗi bất hạnh của người khác vào mình (Phong vận kì oan ngã tự cư). Lòng nhân hậu khiến ông luôn rất nhạy cảm với nỗi đau khổ của người khác vì thế những thi phẩm của ông luôn đầm đìa nước mắt: nước mắt của nàng Kiều nước mắt của người ca nữ đất Long Thành và của nàng Tiểu Thanh. Họ đều là những con người tài hoa tài sắc song toàn mà mệnh bạc. Nhà thơ đồng cảm và đau nỗi đau của những người ấy không đơn giản chỉ là sự cảm thông của con người đối với con người. Nỗi đau của Nguyễn Du còn là sự nuối tiếc xót xa trước sự ra đi của những tài năng. "Cái tốt đẹp thì khó bền" "hoa thường hay héo cỏ thường tươi" đó là quy luật của cuộc đời. Sự vô tình của con người trước nỗi đau trước giá trị của cái đẹp cũng là lẽ thường. Biết vậy Nguyễn Du vẫn luôn trăn trở day dứt:

Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?


"Tấm lòng thơ vẫn tình đời thiết tha" (Tố Hữu) chính là điều khiến ông luôn được người đời trân trọng.

Điều thứ hai khiến tôi say mê Nguyễn Du chính là bởi tài năng. Nguyễn Du yêu Tiếng Việt nên ông đã sử dụng thành công và làm Tiếng Việt phong phú thêm bao nhiêu. Bao nhiêu năm nay chúng ta đọc và say mê Truyện Kiều một phần bởi cái giọng điệu lục bát dễ đọc dễ thuộc dễ nghe. Nguyễn Du đã gửi gắm ở Truyện Kiều một tình yêu lớn đối với tiếng nói và thể thơ dân tộc. Ông dùng những từ ngữ những cách diễn đạt gần gũi với tiếng nói của nhân dân. Dân dã mà vẫn thật hay vẫn uyên bác và giàu chất nghệ thuật. Ví như những bức tranh bốn mùa của ông:

Cỏ non xanh rợn chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa


Tiếng Việt đẹp hơn giàu âm thanh hình ảnh và sắc điệu hơn bởi khả năng sáng tạo của ông. Truyện Kiều đã đưa thể hiện một cách phong phú nhất khả năng biểu hiện của Tiếng Việt và khả năng biểu cảm của thể thơ lục bát.

Có biết bao nhiêu lí do để ta trân trọng đại thi hào dân tộc Nguyễn Du và lí do lớn nhất chính đáng nhất chính là nhân cách cao đẹp của ông kết quả của sự kết hợp hài hoà giữa tài và tình Nguyễn Du.

 

More...

Tản văn về đạo 5.

By Phan Đình Phùng

 

 

 

 

GỬI NGƯỜI YÊU THƯƠNG! 

      Biết Hoài Lan là một cô gái có hoài bão nên Minh Trung không lấy làm ngạc nhiên lắm khi nghe Lan chia sẻ rằng cô chọn con đường tu trì. Là đôi bạn thân từ thưở nhỏ cùng quê cùng trường lớn lên thành phố kẻ trước người sau nhưng rồi cũng gặp nhau. Âu cũng là cái duyên số của kiếp người! Giữa hai người có tiến triển tình cảm cũng không là chuyện lạ! Trung chỉ không hiểu là sao Lan lại chọn con đường tu trì Lan đã đi. Một năm dần trôi qua! Những dịp lễ hội là những kỷ niệm xưa ùa về trong tâm trí Trung. Kỷ niệm ấy bây giờ như vết xót mà thời gian như muối như chanh cứ xát vào cho lòng Trung thêm khó hiểu và thêm xót… Ba năm nữa trôi đi trong lặng im… Ngày kia Lan nhận được một lá thư Trung gửi.

      “ Hoài Lan thân mến!

      Thời gian đã bốn năm rồi! Nhanh quá phải không Lan? Lan khỏe không? Trung vẫn còn nhớ hoài ngày tiễn Lan đi mà không trong lòng không sao hiểu được… Có lẽ Lan ngạc nhiên lắm khi biết rằng bây giờ Trung cũng như Lan rồi đó!...”

      Địa chỉ ngoài bì thư không ghi rõ tên nhà dòng nhưng Lan biết Trung không nói dối. Cầm bút Lan ngồi viết thư hồi âm cho Trung.

      “Minh Trung thân mến!

      Nhận  được thư của Trung Lan rất vui và tin những gì  Trung đã viết. Lòng tin của Lan đối với Trung vẫn như  bạn bè thuở nào. Bây giờ Lan càng vui hơn nữa khi con đường Lan đi Trung hiểu và cùng chia sẻ.

      Trung ơi!

      Con người chúng ta được Thiên Chúa dựng nên là bởi tình yêu. Do đó trái tim con người cũng phải đập và sống nhịp yêu thương. Quy luật đó tự  nhiên lắm! Ai cũng có nhu cầu yêu và được yêu. Ngày Lan đi Lan không dám giải thích cho Trung vì e rằng sẽ làm tổn thương tình cảm của Trung vì lúc đó Lan hiểu được tình cảm Trung dành cho Lan. Lan chỉ biết cầu nguyện để một ngày nào đó Thiên Chúa sẽ cho Trung câu trả lời. Cảm ơn Trung đã không ích kỷ. Cảm ơn Trung đã giúp cho Lan được toại nguyện với ước mơ của mình. Yêu thương là để cho người mình yêu được hạnh phúc chứ không giữ cho riêng mình. Yêu thương là không mong đáp trả. Trước khi Lan bắt đầu cho mình sự dấn thân giữa một cuộc sống đầy xô bồ chen lấn ích kỷ chà đạp lẫn nhau thì Trung đã cho Lan một gương sáng một tấm lòng quảng đại rồi đó! Lan đã ghi nhớ điều ấy suốt những năm tháng qua để nhắc nhớ cho chính mình vẫn còn đó sự ấm áp của ngọn nến hy vọng tình người. Bây giờ con đường Lan đi Trung cũng đã dấn bước rồi đó! Lan vui lắm khi có thêm người cùng chia sẻ mà nhất là người thân yêu người hiểu mình. Chúng ta cùng nhau minh chứng cho mọi người cuộc sống này không chỉ có sự chiếm hữu; hạnh phúc cuộc đời sẽ không bao giờ cạn nếu con người luôn biết ra khỏi chính mình để cho đi. Trung có thấy sự lạ lùng và huyền diệu của tình nghĩa con người không? Chúng ta chỉ như hạt muối trong lòng biển cả; nhưng dù chỉ là hạt muối còn có vị mặn cho đời hơn là hạt vô vị lạnh lẽo cô độc phải không Trung? Chúng ta không chọn đời sống hôn nhân như thế không có nghĩa là chúng ta không biết yêu thương. Ngược lại chúng ta cần phải có một trái tim dễ yêu và để cho trái tim mình càng mở rộng mà không tìm lấy ngõ hẹp cho riêng mình. Trong những lời khấn của đời tu mà chúng ta sẽ tuyên khấn lấy lời khấn khiết tịnh không chỉ nghĩa là sống độc thân vì lý tưởng được thuộc trọn về Thiên Chúa mà còn là lời khấn yêu thương nữa. Thiên Chúa là tình yêu mà!”

      Rời chân khỏi bưu điện Lan thanh thản bước trên lối  đường quen thuộc. Lan hiểu rằng không có từ ngữ nào có thể nói hết suy tư trong lòng cho Trung hiểu cũng như không tỏ bày hết điều Lan cảm nghiệm. Niềm hạnh phúc trong Lan là Lan hiểu cuộc đời vẫn còn có điều cao quý hơn là những gì nắm bắt được… Và Lan tin người bạn thuở thiếu thời trong sáng ngây thơ ấy cũng sẽ tìm được niềm hạnh phúc trong con đường đã chọn. Ở phương trời ấy người bạn thân thiết ngày xưa giờ đã thành người đồng chí hướng. Lan tin rằng người bạn đó sẽ luôn cùng Lan gặp gỡ trong kinh nguyện hướng về Đấng Tối Cao cầu nguyện cho Lan.

      Thật không gì hạnh phúc cho bằng có một người bạn  tốt hiểu mình yêu thương mình và tôn trọng mình! 

      

 

 

 

 

     HÃY THA THỨ CHO ANH 

    Tốt nghiệp xuất sắc đại học kinh tế. Gia đình - như  đã hứa - khen thưởng cho Mai một chuyến du lịch về miền thùy dương cát trắng Nha Trang.

    Bỏ  lại sau lưng nỗi lo âu mệt mỏi của những tháng ngày  ôn học… Mai say sưa ngắm nhìn cảnh đẹp của Mũi Né của đồi cát bãi Dương và nhất là cảnh non nước hữu tình của Mũi Cà-ná… Dưới biển xanh những chiếc tàu đang rẽ sóng tung bọt nước trắng xóa! Cạnh dãy núi Vĩnh Hảo đoàn tàu lửa hụ còi uốn lượn ngoằn ngoèo như dải lụa muôn sắc trên đường ray.

    Qua một đêm nghỉ ngơi sáng hôm sau cả nhà  đi ra biển. Bãi biển Nha Trang hôm nay nắng đẹp đủ  để làm cho làn da mọi người ửng hồng… Trong số du khách thả bộ rong chơi và hứng gió cũng có các Ma Xơ bước đi chậm rãi khoan thai dưới hàng dương. Nhìn những nét đẹp dịu hiền đơn sơ trong trắng của các Xơ ý nghĩ đi tu chợt lóe lên trong đầu Mai.

***

    Tiếng chuông ngoài cổng tu viện vang lên Mai vội ra mở… Nàng kinh ngạc khi nhận ra người khách đó là Hùng:

    - Anh Hùng anh còn đến đây làm gì nữa?! Xin đừng quấy rầy em.

    - Mai à anh không thể quên em được đừng bỏ anh…  Về với anh đi!

    - Em đã ước nguyện dâng hiến đời mình cho Chúa  rồi làm sao em có thể về với anh được!?!

    Trước khi từ giã gia đình bước vào cuộc sống tu trì Hùng và Mai đã có một khoảng thời gian thơ  ấu vui đùa bên nhau… Hai nhà chỉ cách nhau có một giậu mùng tơi thi thoảng cả hai cùng ú  à trêu ghẹo nhau mỗi khi mẹ kêu đi hái lá mùng tơi về nấu canh… Ngày lại ngày qua hai đứa cùng lớn lên theo năm tháng cùng đi chung một con đường cùng học chung dưới mái trường làng… Và rồi cũng đến lúc nhộng kia phải hóa mình thành bướm nụ kia cũng phải hé nở thành hoa… Những e ấp thẹn thùng của tuổi đôi mươi đã làm cho hai đứa không còn hồn nhiên như trước nữa! Cho đến một ngày nọ cũng bên rào giậu thay vì hái lá mùng tơi Hùng đã nắm chặt tay Mai với ánh mắt đắm đuối khát khao… Giật tay ra khỏi Hùng Mai chạy ù một mạch vào nhà lòng xao xuyến bâng khuâng cái cảm giác lạ lùng khó tả! Văng vẳng sau lưng tiếng mẹ:

    - Con làm sao vậy? Lá mùng tơi để đâu rồi?

    Vào giờ kinh tối ở tu viện hôm đó Mai đã khóc rất nhiều! Nhớ lời Mẹ dặn dò: Nếu có  gì khó khăn trong cuộc sống hoặc muốn giữ mình trinh khiết; thì ngoài việc cầu xin cùng Đức Mẹ con hãy chạy đến cùng Thánh Giuse… Vì Ngài là Đấng Công Chính xưa kia vì vâng lời Thiên Sứ Ngài đã tìm cách để bảo vệ Thanh danh cho Đức Mẹ và giữ cho Đức Mẹ được Đồng Trinh trọn đời Ngài đã tin tưởng và chấp nhận sự việc Đức Mẹ mang thai Đấng Cứu Thế (dù biết rõ là không phải do mình tạo ra) và hết lòng chăm lo chu toàn bổn phận là Chồng là Cha... Mai quì xuống bên tượng Thánh Giuse thành khẩn cầu xin cho mình và cho Hùng.

***

    “…Mai em là của tôi mãi mãi em là của tôi em không được đi đâu hết…” Vừa nói Hùng vừa ôm quàng lấy Mai cấu xé gào thét để tìm cách thỏa mãn dục vọng của mình. Tưởng rằng sắp sửa chiếm đoạt được thân xác của Mai bỗng Hùng thấy phía dưới mông mình đau rát:

    - Này anh kia anh đã có gia đình sao không lo chu toàn bổn phận mà còn muốn lăng nhăng?!

    Ngoái  đầu nhìn lại Hùng thấy Thánh Giuse và cành huệ  trắng trên tay Ngài đã biến thành cây gai nhọn hoắc giơ lên giơ xuống trên đầu… Quá  sợ hãi Hùng cúi lạy van xin:

    - Con đã biết tội rồi xin Thánh Cả tha thứ.

     Thánh Giuse lên tiếng:

    - Chính Mai là người đã cầu xin cho con thế mà  con còn tính hãm hại cô ấy à?!

    Quay sang Mai Hùng khẩn khoản:

    - Hãy tha thứ cho anh cám ơn em!

***

    Tiếng chuông đồng hồ báo thức đã kéo Hùng ra khỏi giấc mộng đưa tay quệt giọt mồ hôi lấm tấm trên trán… Nhìn vợ và con đang say giấc nồng Hùng thầm cảm ơn Thánh Giuse đã gìn giữ chàng khỏi cơn cám dỗ tội lỗi. 

      

 

 

 

 

 

       NẮNG SỚM TINH KHÔI 

      Nhìn Quyên bước ra từ trong xe hoa tay ôm bó hồng trắng muốt chiếc váy cưới đơn giản cũng màu trắng với khuôn mặt thanh tú ngây thơ như thiên thần khiến người khó tính như bà Lan mẹ Hoàng cũng phải mỉm cười hài lòng hạnh phúc. Yêu Quyên vì chính Quyên nên Hoàng vẫn luôn tự nhủ: “Cho dù là người đến trước hay sau đối với Hoàng nàng vẫn là tất cả!” Dù không quá cổ điển hay quá tân thời nhưng với Hoàng sự nết na dịu dàng đằm thắm nơi người mẹ yêu dấu của chàng đã có những ảnh hưởng thật sự không nhỏ trên chàng trên đại gia đình của chàng. Mẹ Hoàng không ngớt khoe với mọi người về cái nết của người con dâu mới còn Bố thì bảo: “Phúc cho mày khi lấy được nó thời buổi này hiếm ít có người con gái nào đoan trang nết hạnh như thế! Nó là của hiếm đấy!”

      Lời của Bố khiến Hoàng luôn cảm thấy mình thật may mắn và diễm phúc. Không quá quan trọng về sự trinh nguyên của người yêu nhưng Hoàng thật sự hạnh phúc khi biết Quyên đã dành  tặng cho anh sự trinh tiết của người con gái trong đêm tân hôn một sự bất ngờ hiếm hoi trong thời buổi hiện đại hôm nay.

      Vào  khoảng nửa năm sau khi quen nhau mỗi khi hai đứa có dịp gần gũi nhau “thằng đàn ông” trong Hoàng luôn hối thúc Hoàng táy máy chân tay. Điều đó cũng dễ hiểu vì khi ấy Hoàng đang là chàng trai sung sức còn Quyên thì như “lúa vừa trổ đòng” mỗi lần gần nhau thì cứ y như có một ma lực nào đó thôi thúc Hoàng “dở trò”. Cứ mỗi lần như thế Hoàng lại phục Quyên sát đất nàng có nhiều cách đánh trống lảng mà Hoàng không thể giận và cũng không thể “lấn sân” được! Có lần Hoàng tưởng là đã “bẫy” được Quyên; Quyên không bỏ chạy không giận dỗi không hét toáng lên nhưng chân thành nghiêm nét mặt Quyên nói: “Nếu yêu em thật sự anh phải tôn trọng em chứ Anh có biết em cũng là con người là người con gái em cũng có những khao khát cháy bỏng chẳng kém gì anh nhưng em và anh cả hai chúng ta hãy chờ đợi cho đến khi chúng ta được chính thức được nên vợ nên chồng. Hơn nữa vì là con nhà có đạo em càng muốn Chúa chúc phúc cho đêm hợp hôn của chúng ta sau đó rồi em sẽ dành cho anh sự tinh khôi vào đêm ấy”. Hôm ấy Hoàng giận dỗi bỏ đi không quay đầu lại vì nghĩ rằng Quyên không yêu chàng thực sự nên đã không chứng minh tình yêu đối với chàng bằng sự dâng hiến. Hoàng nghĩ Quyên đã không yêu chàng thật lòng mà còn lên giọng dạy đời nữa. Chưa từ bỏ ý định đó nên có lần bố mẹ Hoàng có dịp đi xa vài ngày chỉ có một mình ở nhà Hoàng gọi điện bảo Quyên tới chơi và nấu nướng cho hai đứa ăn luôn thể. Hoàng nghĩ là có thể “bẫy ” được Quyên. Mãi sau này Hoàng mới biết là mình đã không giăng được mồi mà còn bị “bẫy” lại. Thực tình Hoàng đã muốn lợi dụng nhà vắng người rủ Quyên đến để được “yêu trọn vẹn”. Ai ngờ Quyên còn “lém” hơn Hoàng khi bày trò đi xem hát xem kịch đi chơi Suối Tiên. Vẫn cho Hoàng những ngày vui thư giãn bên nhau nhưng quyên cũng thật khôn ngoan để tránh được “sự cố không hay” với mình. Trước mặt bà Lan và ông Quân bố mẹ Hoàng Quyên không bao giờ chấp nhận những cử chỉ âu yếm của Hoàng có lần chỉ có hai đứa ngồi ở phòng khách lợi dụng bà Lan lên lầu Hoàng đã ôm Quyên và hôn lên má Quyên ngay lúc ấy Quyên vội nghiêm mặt nhắc khéo: “Ngồi ngoan kẻo mẹ xuống ngay đấy!” Phải công nhận là không đạt được mục đích thì Hoàng tức thật nhưng thái độ của Quyên đáng cho Hoàng nể mặt khâm phục. Không thể không yêu người con gái đoan trang và khôn ngoan ấy. Vì Thánh kinh đã chẳng nói: “Tìm được vợ hiền là tìm thấy hạnh phúc và nhận được ơn Đức Chúa ban cho. Cửa nhà tài sản là gia nghiệp của cha ông còn người vợ khôn ngoan là do Đức Chúa. Tìm đâu ra một người vợ đảm đang? Nàng quí giá vượt xa châu ngọc… do những việc nàng làm” (Cn 18 22; 19 4; 31 10-31) đấy ư?

      Những ngày trăng mật trôi đi cái vèo ngày mai lại phải về với nhịp đập thường nhật của cuộc sống nhưng những cảm xúc tuyệt vời của những ngày đầu hạnh phúc trong đời sống hôn nhân sẽ “thắp lửa”  cho những chặng đường sắp tới trong đời sống gia đình của Hoàng và Quyên. Hoàng tự nhủ là sẽ yêu thương và tôn trọng Quyên mãi mãi trong mọi ngày sống của cuộc đời. Bởi có được Quyên một “của hiếm thời hiện đại” là Hoàng đã thật sự hạnh phúc lắm rồi! Những cảm xúc tinh khôi được ban tặng từ Quyên trong những giây phút đầu đời của cuộc sống lứa đôi sẽ giúp cho “con ngựa chứng này” không xa đường lạc lối.

      Quyên như một món quà quí với Hoàng và với cả gia đình của Hoàng bởi Quyên vừa là một cô gái đảm đang đoan trang nết na vừa có một lối sống lành mạnh có cách ứng xử thật khôn ngoan bất chấp những trào lưu sống thác loạn của giới trẻ trong thời đại “mở” như hiện nay. Hoàng nhận thấy nơi Quyên một sự hoà hợp giữa nét đẹp hiện đại và truyền thống của người con gái Việt Nam da vàng. Đám bạn của Hoàng cũng mừng và “ghen tỵ” với  Hoàng bởi niềm hạnh phúc vô bờ Hoàng đang có. Hoàng đang ngất ngây với những giây phút hạnh phúc nhất trong đời Hoàng ước gì con gái sau này của Hoàng cũng được giáo dục để biết giữ gìn tu dưỡng bản thân để khi bước vào đời sống hôn nhân con gái của Hoàng không phải mặc cảm xấu hổ bị dằn vặt bởi quá khứ nhưng được người phối ngẫu thốt lên: “Em về nắng sớm tinh khôi”.  

      

 

 

 

 

 

 

       TÂM TÌNH CÙNG CHA THÁNH - 1 

      Lạy Cha Thánh Giuse!

      Có lẽ Cha sẽ rất ngạc nhiên khi đọc những dòng tâm sự của con một người trẻ xốc nổi và đầy đam mê lại có thể dành đôi phút lắng lòng để tỏ bày cùng Cha những ẩn tình sâu kín nhất.

      Chính con cũng bất ngờ về con! Một sự xoáy động tâm linh rất kỳ lạ cứ dâng lên và thúc bách con hướng về Cha để nhận ra đâu là một cách sống đẹp sống hay và sống khôn ngoan nhất.

      Đã từ lâu con cứ nghĩ rằng một cuộc sống đẹp là sống trọn vẹn những gì mình thích. Sống hay là sống đúng đam mê bản chất và sống khôn ngoan là sống cho chính bản thân mình vì mỗi người chỉ có một cuộc sống và chỉ sống một lần thôi!

      Tư  tưởng thời đại này bám rễ trong con tạo nên những giá trị ảo mà con cứ một mực bám víu coi như một chuẩn mực hiện sinh. Con không hiểu về nhân đức. Con không khái niệm đúng nghĩa về sự Khiết Tịnh… Thế nên con chỉ sống theo cách của con cách mà trần đời định hướng hoàn toàn cho sự thỏa mãn cá vị để rồi tất cả trong con là vội vã sống tranh giành nhau sống và xem người khác chỉ là nấc thang để con thỏa mãn chính mình.

      Con quên rằng Thiên Chúa mới là Điểm Xuất Phát và  Điểm Đến của con chứ không phải là bản thân con và những dáng vẻ ảo diệu của chất thể. Sao cuộc sống con không hướng về Người nhưng lại đi tìm những hình ảnh thoáng qua để rồi trong con luôn là sự dày vò và dằn xé vì những hành động nông nỗi của mình?!

      Lạy Cha Thánh Giuse!

      Câu trả lời đúng nhất mà con học được từ Cha đó là con không có một đời sống cầu nguyện thật lòng và liên lỉ như Cha. Con xem Thiên Chúa chỉ như một người khách con cần để khi khốn cùng phiền muộn con mở cửa đón vào cậy nhờ khi vui sướng thỏa mãn con lại đóng cửa mời ra để trái tim mặc nhiên hưởng thụ. 

      Trong khi Cha luôn hướng về Thiên Chúa bằng một tâm hồn trong sạch một đời khiết tịnh thanh cao. Đức Khiết Tịnh tỏ hiện trước hết ở nơi Cha là sự kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa trong sự đáp trả không tính toán. Tâm hồn Cha không vướng bận đam mê làm chật chội trái tim dành cho Người. Cha không muốn chất thể và tinh thần Cha vương nhiễm tì vết làm hoen nhơ của lễ đời Cha cung tiến Thiên Chúa. Cha muốn dâng cho Thiên Chúa sự cao trọng nhất của Cha đó là một cuộc sống thanh sạch chỉ cung chứa Thánh Ý Thiên Chúa và hiện thực mọi Ý Định của Người mà thôi! 

      Cha đến với Thiên Chúa một cách thật lòng và trọn vẹn. Mọi giây phút đời Cha luôn là lời cầu nguyện tinh khiết: Ước mong và sống đẹp lòng Đấng Cứu Độ.

      Cuộc sống đẹp phải là như thế! Cuộc sống hay phải giống như vậy và một cuộc sống khôn ngoan phải nên như cách sống của Cha trong Thiên Chúa.

      Có  bao giờ con dành cho Thiên Chúa đủ tâm tình một giờ trong ngày để sống trong Người và múc lấy Nguồn ân sủng trác tuyệt đâu?! Có bao giờ con biết để trái tim trống rỗng và thanh sạch để cung chứa và yêu mến Thánh Ý Thiên Chúa đâu?! Khi không có đời cầu nguyện trong Đức Khiết Tịnh làm sao con nhận ra Thánh Ý Thiên Chúa để yêu mến để vâng phục và thực hiện?!

      Con chẳng biết mình còn lại gì với với Thiên Chúa vì  tất cả thời gian con dùng cho mọi sở thích và  ham muốn riêng tư của con hết rồi!

      Lạy Cha Thánh Giuse!

      Con mong Cha giúp con một ý chí mạnh mẽ trong ân sủng để con biết buông bỏ những gì làm vướng bận trái tim con đến với Thiên Chúa.

      Xin Cha khẩn nguyện Thánh Linh cho con Ơn Biết Lo Liệu để con dùng thời gian một cách xứng hợp nhất trong việc hướng về Thiên Chúa làm đẹp lòng Thiên Chúa hơn là làm vui thích bản thân con.

      Xin Cha ôm lấy con trong Đức Khiết Tịnh nguyện cầu để con lớn lên tinh tuyền trong Tình Yêu Thiên Chúa nơi mà  con sẽ thơm hương bát ngát huệ thắm cùng Cha. Amen!

      

 

 

 

 

 

      TÂM TÌNH CÙNG CHA THÁNH – 2 

      Lạy Cha Thánh Giuse!

      Sức trẻ trong con với bao xung động bản năng mãnh liệt. Bản năng ấy quá dào dạt khiến con luôn thích khám phá thích chinh phục và khao khát chiếm hữu. Con không thể tránh né dòng chảy xung năng đang cuồn cuộn trong huyết quản mình cũng như con không thể khư khư ôm lấy tư tưởng đè nén để dằn vặt cuộc sống.

      Năng lực giới tính và những xung động này đều là  quà tặng từ Thiên Chúa nhằm giúp con phát triển  đúng với giới tính và chất thể mình. Nếu khác  đi con không phải là con nữa… Các yếu tố  sinh lực góp phần điều tiết và vận động sự tiến triển nội thân khiến con trở nên lớn mạnh sung mãn chuẩn bị cho tố chất cộng tác với Thiên Chúa trong việc sáng tạo sự sống.

      Đây là viên ngọc quý của tuổi thanh xuân mà mọi thời khắc đều mang lại ý nghĩa và giá trị của một đời người. Con không thể lợi dụng nó hay lao theo sự thúc đẩy mù quáng không hạn chế của nó để thỏa mãn mọi nhu cầu bản năng.

      Con thích cái đẹp nên con nhìn ngắm mọi vẻ đẹp. Điều đó thật ý vị vì Thiên Chúa  đã tạo dựng tất cả cho sự chiêm ngưỡng vinh quang Người nhưng đáng tiếc là con chỉ muốn sở hữu cái đẹp đó cho riêng bản thân. Thế là con dùng mọi phương cách để lôi kéo tranh giành ngay cả hủy hoại cái đẹp đó nữa. Chính sự chiếm đoạt để thỏa mãn ước muốn vị kỷ mới làm cho con trở thành vấn nạn của chính con! 

      Sự  ham muốn chiếm hữu một cách vô độ khiến con thành nô lệ và đi vào những hệ lụy sai trái chứ không phải bản năng và xung động đam mê  nơi con. Con phải hiểu điều này để con không ngụy biện cho những đòi hỏi và thỏa mãn nhất thời.

      Lạy Cha Thánh Giuse!

      Câu trả lời hay nhất mà con học được từ  Cha đó là con không biết đặt đam mê và  khát vọng của con vào Thiên Chúa. Trái lại con quy chiếu tất cả vào chính bản thân mình như một giá  trị người khác phải theo.

      Con quên rằng chính Đức Giêsu mới là Vẻ Đẹp Toàn Hảo của mọi nét đẹp1. Tất cả đều phải quy hướng về Người như Người luôn hướng về Thiên Chúa2. Khi con đặt những nét đẹp nhất thời con yêu chuộng hơn Vẻ đẹp Toàn Hảo vĩnh cửu trước hay sau gì con cũng luôn khắc khoải và dằn vặt vì tính mau qua của điều con ham thích.

      Cha cũng mang trong mình một khát vọng sâu xa có thể  nói khát vọng và đam mê của Cha mãnh liệt hơn con nhiều vì Cha đã sống trọn vẹn cuộc sống Cha chỉ cho một khát vọng duy nhất: Khát vọng yêu mến và phụng sự Đấng Thiên Sai. Cha đã hướng mọi năng lực và xung động bản thân vào Thiên Chúa. Cha biểu hiện các xung năng của mình qua việc đi theo Sự Thiện và làm theo Sự Thiện. Cha lấy Thiên Chúa qua Đức Giêsu làm chuẩn mực cho mọi giá trị Vẻ Đẹp và Cha đặt mọi nét đẹp và sự rung động của tâm hồn vào trước Vẻ Đẹp và ưu phẩm của Người. Chính vì thế mà mọi sự trở nên hài hòa sinh động và uyển chuyển.

      Phần con có bao giờ con đặt trọn vẹn khát vọng của con vào Thiên Chúa đâu?! Chẳng khi nào con quy chiếu mọi cảm nhận bản năng của con về Người?! Thiên Chúa như vắng bóng trước từng quyết định của con. Con muốn khẳng định mình nhưng con không làm chủ được xung động bản năng. Chẳng trách vì sao cuộc sống con bất an và luôn nghiêng chiều theo mọi khuynh hướng bản năng và đam mê trần thế!

      Lạy Cha Thánh Giuse!

      Xin hãy thổi lên ngọn lửa khát vọng Thiên Chúa trong con để ngọn lửa ấy thanh luyện những xung động bản năng của con trở nên dòng chảy dạt dào lòng mến sống cho Sự Thiện.

      Xin làm cho con yêu thích chiếm hữu Thiên Chúa và chỉ một mình Người mà thôi!

      Xin hãy nâng đỡ và dìu bước con đi trong ân sủng của Thiên Chúa để mọi suy nghĩ  ước muốn và cảm nhận của con trước nét đẹp trần hoàn này đều quy về Đức Giêsu - Vẻ Đẹp Toàn Hảo con luôn hướng về. Amen!  

More...

PHÂN TÍCH ĐOẠN TRAO KỶ VẬT TRONG TRÍCH ĐOẠN "TRAO DUYÊN" CỦA "TRUYỆN KIỀU" - NGUYỄN DU

By Phan Đình Phùng

 

 

PHÂN TÍCH ĐOẠN TRAO KỶ VẬT TRONG TRÍCH ĐOẠN "TRAO DUYÊN" CỦA "TRUYỆN KIỀU" - NGUYỄN DU

 

 



“Trao duyên”- một hành động “trả nghĩa chàng Kim” của Thuý Kiều thể hiện một nét đẹp trong đạo sống của người xưa “tình” thường gắn liền với “nghĩa”. Đó là một đặc điểm quan trọng trong quan niệm truyền thống về tình yêu. Đó là cái nhìn hiện thực của Nguyễn Du về con người. Nhưng bên cạnh đó ta còn thấy một nàng Kiều thiết tha với tình yêu thiết tha với cuộc sống riêng tư. Điều đó được thể hiện qua nỗi đau đớn của nàng vì tình yêu tan vỡ. Chiều sâu và sự chân thành trong tình cảm của nàng Kiều được bộc lộ sâu sắc khi nàng đối diện với kỉ vật kỉ niệm tình yêu.

Mối tình Kim- Kiều là mối tình đẹp vượt lễ giáo phong kiến. Mối tình của đôi tài tử- giai nhân ấy đã có những kỉ niệm trong sáng đẹp đẽ sâu nặng thiết tha. Kỉ niệm chính là hiện thân của tình yêu. Kỉ vật gắn với kỉ niệm là một dạng vật chất hoá của kỉ niệm. Cho nên rải rác suốt trong đoạn Trao duyên Thuý Kiều đã nhắc tới đã sống và đau đớn với những kỉ vật và kỉ niệm ấy.

Trước hết kỉ niệm được Kiều nhắc đến một cách tế nhị khi nói với Thuý vân về mối tình của mình :

Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề

 

 


Ngôn ngữ khách quan chữ “khi” lặp lại như dư âm của cái đã qua lời lẽ có vẻ thanh thản. Nhưng cái thiết tha cái chiều sâu của tình cảm lại nằm ở kỉ niệm “gặp chàng Kim”. Đó là kỉ niệm của phút giây gặp gỡ ban đầu mà “nghìn năm hồ dễ mấy ai quên”. Cả một vùng trong sáng của kí ức hiện về. Nhưng lúc này Kiều còn đủ lí trí để kìm nén để không bị kỉ niệm cuốn vào tâm tưởng. Nhưng đến câu: “Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề” thì kỉ niệm của ngày trao quạt cho nhau để hẹn ước đêm dưới trăng uống rượu nguyện thề thuỷ chung tự nó nói lên sự sâu nặng của một mối tình: trong sáng mà mãnh liệt thiết tha.

Mối tình vàng đá ấy tưởng cầm nắm trong tay bỗng chốc bị xã hội dập vùi tan vỡ. Tình yêu vẫn tiếp tục hiện về với kỉ vật:

Chiếc vành với bức tờ mây
Duyên này thì giữ vật này của chung.

 

 



Khi trao kỉ vật cho Thuý Vân nỗi mất mát hiện hữu quá rõ. cầm đến kỉ vật kỉ niệm tình yêu sống dậy đối lập với hiện thực phũ phàng Thuý Kiều không còn đủ lí trí để kìm nén được nữa giọng nói của nàng run lên: “Duyên này thì giữ vật này của chung” nghe như có tiếng nấc nghẹn ngào trong đó. Hoài Thanh đã cảm thông nỗi đau đớn của nàng Kiều ở hai từ “của chung” - “Bao nhiêu đau đớn dồn vào hai tiếng đơn sơ ấy”. đau đớn vì duyên thì trao cho em mà tình yêu thì không trao được. Kỉ vật với Thuý Vân chỉ đơn giản là vật làm tin nhưng với Thuý Kiều nó lại là tình yêu.

Trao duyên cho em con người đạo lí ở Thuý Kiều mách bảo cần phải trao kỉ vật. vả lại khi tình yêu tan vỡ giữ kỉ vật chỉ thêm đau. Nhưng Thuý Kiều không chỉ là con người của đạo lí mà còn là con người của tình riêng. Thuý Vân giữ kỉ vật trong khi chính Kiều mới là người giữ kỉ niệm của tình yêu. Cuộc chia lìa giữa kỉ niệm và kỉ vật là cuộc chia lìa giữa linh hồn và thể xác. Đau đớn dồn vào hai chữ “của chung” là vì như thế. Nguyễn Du như hoá thân để cảm thông chia xẻ đến tận cùng nỗi đau với nhân vật của mình từ đó cất lên tiếng nói nhân đạo sâu sắc mới mẻ.

Càng lúc nỗi đau đớn càng lớn kỉ vật kỉ niệm tình yêu cứ chập chờn:

Mất người còn chút của tin
Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa

 

 


“Ngày xưa” “phím đàn” “mảnh hương nguyền” … có một đôi lứa thiếu niên bên nhau nàng đánh đàn cho chàng nghe trong khói hương trầm thơm ngát. Bao nhiêu thi vị của mối tình đầu giờ chỉ còn là vô vọng.

- Đốt lò hương ấy so tơ phím này…

- Hồn còn mang nặng lời thề …

 

 


“Lò hương” “phím đàn” “lời thề” là những kỉ niệm sâu nặng thiết tha đối lập với hiện thực phũ phàng tương lai mù mịt khiến Thuý Kiều rơi vào trạng thái đau đớn tột độ.

Nguyễn Du thật tinh tế sâu sắc khi biểu đạt nội tâm con người đối diện với kỉ vật kỉ niệm tình yêu trong hoàn cảnh trao duyên. Thân phận đau khổ nhưng nhân cách sáng ngời. Nàng ứng xử theo văn hoá của thời trung đại nhưng không thôi nghĩ về thân phận và tình yêu riêng tư. điều đó khiến nàng Kiều “người” hơn gần chúng ta hơn sống động và chân thực hơn.

More...

Tản văn về đạo 4.

By Phan Đình Phùng

 

 

  NGÔI  NHÀ PHÍA BÊN KIA 

    Lũ  về. 

    Ông  trùm Khoan chạy về nhà hổn hển.

    - Mẹ .. ơi… nước ngập mau đi thôi.

    - Không! Tôi chẳng đi đâu cả. 

    Như  hiểu ra chuyện của Mẹ và vợ  ông trùm Khoan năn nỉ.

    - Mẹ đừng giận nhà con.

    - Không giận sao được   anh  suốt ngày ở nhà thờ. Còn vợ anh ngày nào cũng kẻ liệt. Tôi cũng là kẻ liệt đấy chứ. Năm nào cũng lũ tôi quen rồi. 

    Ông trùm Khoan giọng nghẹn ngào.

    - Làng bị ngập người đầu tiên con nghĩ tới là mẹ.

    - Rồi ai nữa? Gịong bà cụ chùng xuống.

    - Chỉ có mẹ là số một.

    - Thế cũng được!

    Vừa nói bà cụ tất bật lấy những thứ cần thiết rồi hai mẹ con chạy ra khỏi nhà.

    - Lúc nãy mẹ mau lẹ thì bây giờ con đã đưa thêm được mấy người nữa.

    - Cứ từ từ sống chết đối với tôi đều là của Chúa. Nhưng tôi  ngao ngán cho cái làng của mình bao nhiêu năm nghèo lụt chẳng đầu tư   lúc tai nạn ập tới mới kêu gọi cứu trợ cứu nạn. Con hãy lo cho cái làng nghèo của mình đừng mượn danh nghĩa của người nghèo mà lấy của người nghèo nhắm mắt chẳng mang theo được.

    - Mẹ biết nhiều thông tin thế!

    - Tôi còn biết Hội Thánh Giuse của anh có bao nhiêu tiền để giúp xây nhà phía bên kia nữa. Anh giúp thì giúp nhé đừng có đi lại với con mẹ ở trong cái nhà đó. Nó đã làm khổ tôi và khổ anh một thời đấy.

    - Mà thôi để lúc khác tôi nói tới cổng nhà xứ rồi   tôi vào một mình. 

    Ông trùm Khoan đội mưa đến nhà cụ Văn. Nhìn thấy  cụ ngoài cổng ông liền nói:

    - Cha Xứ đang chờ Cụ ở bến. 

    - Thế còn cái nhà bên kia anh có đến cứu không?

    - Ai cũng cứu hết cụ à!

    - Thế thì tốt anh sang mà đưa họ đi để tôi đi một mình kẻo không kịp.

    - Cụ lẹ lên cháu đi đây.

    Quen đường quen ngõ loáng một cái cụ đã có mặt trên thuyền.

    Ông trùm Khoan lại chạy nước rút sang nhà bên kia miệng lẩm bẩm: Cứu người là quan trọng. Cái nhà bên kia đã làm tiêu tan bao sự nghiệp của ta. “Cứu hay loại bỏ?” giữa ác và thiện làm ông day dứt. 

    - Lạy Chúa xin thương xót con.

    Ông có thói quen đọc như thế mỗi khi gặp sự khó.

    Ông nhớ đến hội Thánh Giuse của ông nhớ ngày gia nhập hội ông quyết tâm sống theo Thánh Ý Chúa công chính và bao dung. Lời Chúa đã soi vào ông  qua những lần ông  suy niệm Tin Mừng “ tha bẩy mươi lần bẩy” .

    Ông còn đang suy nghĩ thì một giọng phụ nữ đã kề sát bên.

    - Đêm khuya ai còn đến đây?

    - Ông trùm Khoan đây. Bà mau đưa ông ra khỏi nhà.

    Người phụ nữ nắm tay ông.

    Ông khựng lại một khoảng lặng trong đêm tối. Quá khứ sự dại khờ sự đắc thắng và bất lực của một đời người đã làm cho hai người chao đảo.

    - Xin Chúa giúp con.

      Ông bật thành tiếng.

    Như  hiểu được sự nguy hiểm của thác nước đổ về người phụ nữ chạy vào nhà:

    - Dậy mau lên chạy lũ ông ơi.

    - Ông Khoan ơi nhà tôi đã liệt 3 tháng nay xin giúp tôi.

    Vất vả lắm mọi người mới đưa được người bệnh lên bờ. Ông trùm Khoan nói:

    - Cha cứ đưa họ về trước con xuống là chìm thuyền lát cha quay lại đón con.

    Thuyền  đã đi xa   Ông trùm Khoan muốn lả đi.

    - Anh Khoan em xin lỗi. 

    Hai bàn tay lạnh giá của bà Tiến nắm chặt tay ông trong tiếng khóc nghẹn ngào. Bất ngờ vì sự hiện diện của bà Tiến ông hỏi:

    - Bà không lên thuyền mà lại ở đây làm gì?.

    - Chồng em nó bị phạt và em cũng bị phạt.

    - Sao bà lại nghĩ méo mó về lòng nhân từ của Chúa. Bà phải cảm nhận được hôm nay tôi đến nhà bà cũng là ơn Chúa thúc đẩy tôi.

    - Vâng nơi đây chỉ có hai chúng ta. Anh hãy vào trong nhà của em.

    Người phụ nữ nép vào lòng ông. Ông nhẹ nhàng đẩy ra.

    - Bà phải có bổn phận với chồng bà .

    - Không em đang cần anh.

    Tay bà nắm chặt cánh tay ông trùm Khoan. Ông thấy nóng trong người. Nói rất mạnh mẽ:

    - Bà không được đụng vào người tôi cho dù cả ngày hôm nay tôi đã mệt.

    - Nếu anh không chấp nhận em em không còn gì để mà  gắn bó với mảnh đất khô cằn này nữa. Em đi  đây!

    Bà  Tiến phóng xuống sông. Thuyền cha xứ chợt tới gần chìm vì sức nặng của người phụ nữ rơi một cách không định hướng ngay giữa cabin tròng trành rồi đâm vào bờ.  

      

 

 

 

 

    NHÁNH HUỆ ÂN SỦNG

 

    Thánh Giuse như một bí tích; như một mặt nhật chứa đựng huyền nhiệm của sự thinh lặng thánh. Chính nơi Giuse nhân loại nhận ra sự cậy trông vô biên của kiếp người. Cá nhân con người này không thể chiến đấu với bản năng sinh tồn nơi bản thân nếu không có ơn trợ giúp đến từ Thiên Chúa.

    Thánh Giuse đã phó thác đời mình cho Chúa dẫn đi trong suốt hành trình của thân phận làm người. Nơi Thánh Giuse ta gặp lại thân phận của chính mình. Khiết tịnh là một thực tại sâu xa cụ thể của chính con người. Không ai biết mình hơn mình biết về chính mình. Khuynh hướng giới tính trở thành nhu cầu trọng yếu của đời sống con người. Thân xác con người được dựng nên để yêu thương để phản ứng để cảm giác để rung cảm để tìm tòi để được thỏa mãn ở cấp độ thể lý; thân xác tìm sự tương quan nên một để được thỏa mãn bản năng của giới tính và bản năng sinh tồn. Nó như hai mặt của đồng tiền cùng lúc con người khắc khoải tự hướng vươn lên khát vọng này đặt con người vào một cuộc nội chiến đầy cheo leo. Cái mỏng dòn của bản ngã nó như hình với bóng rình rập bám chặt vào trong xương máu và chi phối tất cả sinh hoạt trong đời sống. Câu hỏi được đặt ra: ngày hôm nay với đà tiến của khoa học và hội nhập văn hóa của nhân loại; khiết tịnh còn có ý nghĩa và ảnh hưởng gì trên nền luân lý nữa không? Từ những dao động trên khiến con người có khuynh hướng bị phân mảnh giữa hai cực hồn và xác.

    Đối với Thánh Giuse sự chiến đấu triền miên này theo dòng thời gian ai là người thấu cảm?  Trong  đời sống trực diện nhận một đứa trẻ làm con cùng với trách nhiệm hết lòng yêu thương đến tận căn. Chìm sâu trong thân phận làm người ai có thể kiểm soát tất cả các hành vi và đảm nhận mình có thể thi hành cách trọn vẹn. Đây là dấu hỏi trong thinh lặng thánh chính trong thinh lặng giúp Giuse can đảm đón nhận đi cho đến cùng kiếp phàm nhân và tìm Thánh Ý Thiên Chúa mỗi ngày chấp định luật của xã hội. Một sự  bảo hộ hợp pháp của Giuse trong vai trò éo le của người cha trên danh nghĩa. Một mãnh lực tiềm ẩn cuộc nội chiến bắt đầu chuyển động nơi Thánh Giuse; mối bận tâm của con người Chúa này lại trở thành con người phàm nhân. Đón nhận một Ađam mới về nhà tội lỗi mình. Tại sao tôi được Thiên Chúa viếng thăm? Chính trong lúc này cái tự do vô tận nơi con người có cái gì thật cao cả thật vô biên đang xảy ra. Giờ  đây Thiên Chúa lại đang cần con người và hồi hộp chờ đợi cái gật đầu “xin vâng” nơi Giuse. Nhánh huệ của nước trời đã bừng sáng lên vẻ đẹp huy hoàng cho nhân loại một cách phi thời gian.

    Tiếng “xin vâng” của tự do mang tính quyết liệt chính Giuse đã đón nhận thánh ý Thiên Chúa.  Nơi Thánh Giuse nhân loại đón nhận món quà một báu vật chính Thiên Chúa ban tặng được Giuse diễn tả và  dâng hiến như bí tích của nhân đức khiết tịnh. Thiên Chúa đã có dự tính và chuẫn bị cho Giuse Thiên Chúa đã dẫn Giuse hoàn thành sứ mạng thiên sai. Chỉ trong đức tin và tình yêu Giuse thể hiện sự tròn đầy và thánh thiện của tiếng xin vâng trong thinh lặng.

    Thánh Giuse đã đi đến cùng thân phận làm người để Thánh Ý Chúa nên trọn chính nơi thân phận đó ta nhận ra hào quang của tình yêu Thiên Chúa xuống trên con người. Hoàn vũ dâng lên lời tạ ơn Thiên Chúa. Thánh Giuse xứng đáng là nhánh huệ của nước Trời.  

    

 

 

 

 

 

    THÁNH GIUSE: TÌNH YÊU TÍN TRUNG 

    Đọc lại Tin Mừng và qua những kinh nguyện khẩn cầu Thánh Cả Giuse chúng ta nghiệm ra rằng Thánh Cả là một con người luôn khiêm tốn. Sự từ tâm lòng quảng đại bao dung của Thánh Cả đã giúp ngài luôn thuộc trọn về Thiên Chúa. Với niềm tin nồng nhiệt của tuổi thanh niên Thánh Cả đã cố gắng sống một cuộc đời đẹp lòng Thiên Chúa nhất để hy vọng đẩy mau việc xây dựng một dân tộc mới mẻ hơn thánh thiện hơn. Cây gậy nở hoa hay bông huệ mà người ta đặt vào tay Thánh Cả trên nhiều tượng ảnh cũng chẳng kém tính cách tượng trưng hơn chòm râu bạc đại lão của Ngài. Ta có thể nhận ra ở đó một tượng trưng hữu ích: Theo truyện truyền khẩu mà các văn bản nguỵ thơ phổ bá cây gậy nở hoa nhắc nhở sự Thiên Chúa đặc tuyển Thánh Cả làm hiền phu độc nhất được chọn lựa trong cả một đám đông đảo thanh niên. Bông huệ gợi lên đức thanh tịnh hết sức lạ lùng của Đấng hiền phu trinh khiết ấy. Nhưng cử chỉ cầm một bông hoa một cử chỉ rất ít thích hợp với một đấng trượng phu cũng chỉ có nghĩa làm cho Thánh Cả trở thành một con người ước lệ là che khuất nhân cách một bậc tu mi nam tử của Ngài. Tuổi thanh niên của Thánh Cả là một mùa xuân không bao giờ cạn ý thơ; có cả một mùa hoa nở bên trong đời Ngài cuộc đính hôn của Thánh Cả đã đặc biệt phô bày mùa hoa ấy. Thánh Cả là một người trầm lặng và chính trong sự im lặng Thánh Cả đã âm thầm chịu nỗi đau khổ gây ra do sự kiện Ngài nhận thấy Đức Maria sắp sinh một người con. Ngài biết chịu khổ mà không thốt ra nửa lời không tỏ ra phân nét. Là một người trầm lặng Thánh Cả trở thành một bài học sống động cho thời đại chúng ta và cho thế giới chúng ta. Con người rất ít nói đó đã có thể suy tư một cách hết sức sáng suốt; Ngài đã cảm thấy đã chiêm niệm với một tâm trí rất tự do; Ngài đã không hề xáo động để lắng nghe Đấng Ngôi Lời lên tiếng và đã tiếp nhận nền minh triết của Thiên Chúa trao cho. Thánh Cả có thể dạy cho loài người biết nín lặng để mến yêu hơn lên mãi…

    Đức thanh tịnh của Thánh Cả chứa chất cả một mầu nhiệm ân sủng. Thiên Chúa đã ban một ân sủng ngoại thường cho Đấng đã trở nên phu quân đồng trinh của Đức Maria để biết Ngài nên một người trong sạch hoàn toàn cả nơi tâm hồn cả nơi cách cư xử. Không bao giờ Thánh Cả tỏ ra mảy may khiếm nhã nào xúc phạm đến những tâm tình rất trong trắng của Đức Thánh Trinh Nữ vì linh hồn Thánh Cả đã được thánh hiến sâu xa. Một mối phúc được Chúa Giêsu tuyên bố đã soi sáng rõ cho ta ý nghĩa sự trong trắng đồng trinh của Thánh Cả Giuse: “Phúc cho những tâm hồn trong trắng vì họ sẽ nhìn thấy Thiên Chúa”. Qua ánh nhìn mà đức thanh tịnh dành giữ cho ngài thánh cả Giuse đã nhìn thấy Thiên Chúa; Thánh Cả nhìn thấy Chúa trong mối tình mật thiết cao cả và có thể chiêm ngưỡng tuỳ thích gần ngay bên. Nơi Hài Nhi Giêsu Thiên Chúa hiện diện ngay đó và ban mình cho Thánh Cả là người có tâm hồn không bao giờ để cho đức trắng trong của mình bị lu mờ. Trong linh hồn trung tín của Thánh Cả Giuse Thiên Chúa đã tìm thấy sự kiện Người đi tìm nơi loài người. Chúa đã nhận được câu trả lời cho tình người yêu  thương mà Người luôn luôn chờ đợi một câu trả lời quảng đại quyết đáp bền dai. Người có một tình yêu vĩnh cửu mà Người không thể toại nguyện nếu gặp nơi những kẻ Người yêu thương chỉ có một tình yêu mỏng manh giăng mắc những lần đổi dạ thay lòng thoạt một trở ngại vừa mọc lên đã vội vàng tan vỡ.

    Nơi Thánh Cả Giuse Thiên Chúa đã hân hoan vì gặp  được một tình yêu trọng nghĩa thuỷ chung một tình yêu vàng đá âm thầm hiến dâng tất cả. “Tình yêu nhen nhúm đã là đẹp nhưng còn có một yếu tố đẹp hơn nữa: Đó là tình yêu trung tín đá vàng” 

      

 

 

 

 

      ANH RỂ
 
       Anh hí hửng gọi tôi và mẹ vào xem mặt vợ anh sáng nay trông hồng hào hơn. Tôi và mẹ đều biết chẳng có biến đổi gì trên khuôn mặt chị nhưng vẫn chạy vào gật gù cho anh vui. Anh và chị tôi cưới nhau hơn hai năm thì chị bị tai nạn giao thông nghiêm trọng phải sống đời sống thực vật vĩnh viễn. Nỗi đau quá lớn khiến anh gục ngã nhưng rồi anh lại đứng lên mạnh mẽ và cương nghị. Anh biết anh là chỗ dựa cho vợ cho đứa con còn bi bô cười nói. Anh cũng trở nên quan trọng đối với tôi và mẹ từ ngày anh dọn đến ở rể trong căn nhà không có đàn ông.

 
       Lúc mới quen anh chị vẫn dẫn tôi theo trong các lần hẹn hò đầu tiên. Chị đẹp hiền lành đảm đang như một cô gái Hà thành. Tôi lại tinh nghịch ương bướng và thường bắt anh phải khổ sở vì  những trò tinh quái của mình. Dù nói chuyện với tôi anh vẫn dõi ánh mắt nồng nàn tình cảm về phía chị. Tôi nhận ra ở anh trái tim của một người đàn ông nhân hậu ánh mắt biết cười và khuôn mặt điển trai. Hôm ba người đi xem xi-nê tôi nhảy vào ngồi giữa anh chị. Phim không có gì xúc động mà nước mắt tôi cứ chảy. Chị cười bảo em gái chị mà cũng có nước mắt ư? Anh xoa đầu tôi khiến tôi càng nức nở. Tôi chỉ là đứa em gái của anh thôi sao… Tôi không đi chơi với anh chị nữa. Tôi cố  tránh mặt anh mỗi lúc anh ghé chơi. Có lẽ anh đã nhận ra điều mà tôi nhắn gửi trong ánh mắt và trong sự lảng tránh của mình. Ngày anh chị cưới nhau tôi khóc nức nở. Bà con khen chị em tôi thương yêu quấn quýt nhau. Anh chỉ im lặng…

 
       Chị tôi nằm lặng lẽ như vậy đã bảy năm. Bảy năm anh tận tụy chăm sóc vợ từng chút một. Anh thầm thỉ kể cho vợ nghe những kỷ niệm ngày xưa những chuyện của ngày hôm nay. Anh cũng kể cả những trò nghịch ngợm khi xưa của tôi. Chiều nào tan sở tôi cũng tranh thủ về nấu cơm cho cả nhà. Mâm cơm có mẹ anh tôi và đứa cháu. Căn bếp ấm cúng và thân thương vô cùng khiến tôi tưởng mình là đứa con dâu là vợ và là mẹ trong mâm cơm chiều ấy. Anh và mẹ vẫn hối tôi lấy chồng anh còn hứa sẽ chăm sóc mẹ và chị. Tôi biết lấy ai bây giờ người tôi yêu đang sống trong nhà của tôi vẫn ngồi ăn cùng bàn và còn nhéo tai tôi như một đứa em gái bé bỏng. Bao giờ anh mới xem tôi là người lớn và dành một chỗ nhỏ bé trong trái tim của anh cho tôi. Anh có thấy chăn gối lạnh lùng khi vợ mình vẫn nằm đấy anh có biết vì những bữa cơm với anh mà tôi bỏ bạn bè bỏ cả sở thích đi lang thang buổi chiều và những chuyến công tác xa nhà…

 
       Một chiều đi ngang qua nhà thờ tôi thấy anh đứng lặng lẽ trước tượng Thánh Giuse với bó huệ trắng trong tay. Anh có những khoảng tâm hồn mà tôi không thể biết cũng như những khoảng cách mà anh khéo léo tạo ra giữa tôi và anh. Tan lễ anh níu tay tôi ở lại một chút. Anh và tôi ngồi dưới tàn cây phượng đỏ rực che bóng mát cho tượng Thánh Giuse. Anh kể về những lời hứa chung thủy của anh và chị trước Thánh Giuse. 
Anh nói sẽ không bao giờ bội ước với chị và với Thánh Giuse mặc dù có những lúc anh mệt mỏi và khao khát có một người vợ chung chăn gối… Tôi lặng nhìn xuống bàn tay lạnh lẽo của mình. Anh đã trả lời ngay cả khi tôi chưa nói! 
 

      “Lạy Thánh Giuse xin Ngài giữ gìn anh cho trọn con đường chung thủy và xin cũng giữ gìn con nữa!” 

    

 

 

 

 

 

      NHAN
       Nhan dắt theo đứa con gầy đét đen thui thủi về quê. Đoạn đường từ cổng làng về đến nhà ngắn ngủn nhưng đi qua biết bao ánh mắt. Những người nhà quê chẳng thèm ý tứ khi phóng những ánh mắt xoi mói vào hai mẹ con Nhan. Những thanh niên trong làng nhìn hai mẹ con Nhan cười kinh khỉnh. Có bà đi chợ về đon đả chào hỏi rồi nhìn thằng bé mà phán: “Con thằng Hoàng không trật vào đâu được!”

 
       Trước kia nhà Hoàng và nhà Nhan không có hàng rào ranh giới. Hai đứa con của anh và mấy đứa cháu của Nhan có chung sân chơi dưới gốc cây trứng gà tán rộng. Cái cây đó mọc lên chưng hửng giữa hai mảnh đất khiến mấy đứa con nít lúc hờn giận nhau lại chỉ vào gốc cây mà tranh giành chuyện đất cát. Khi thấy anh và Nhan thường trò chuyện thân mật thì bố Nhan làm một cái hàng rào ngăn hai mảnh đất. Cái hàng rào mỏng manh đó không ngăn nổi mấy đứa con nít chuyền tay nhau trái ổi không ngăn nổi ánh mắt Nhan len lén nhìn qua bên xem giờ này anh đang làm gì. Nhan biết tình yêu của mình không chính đáng vì anh đã có gia đình nhưng cô không ngăn được con tim mình nổi lên lộn nhịp khi bắt gặp ánh mắt biết cười của anh. Tình cảm của hai người được bọc trong cái vỏ tình bạn từ thời niên thiếu lúc còn chơi trò cô dâu chú rể trên sân nhà thờ. Những câu chuyện giữa hai nhà dần trở nên vui vẻ như trước. Tụi con nít bẻ mấy thanh tre để có chỗ chui qua chui về. Cái hàng rào trở nên xiêu vẹo nhòe nhoẹt không còn chướng tai gai mắt như trước. Rồi một ngày Nhan phát hiện mình có thai! Tình yêu vụng trộm đã gieo vào lòng cô một mầm sống. Cái thai làm xáo trộn cuộc sống hai nhà. Mẹ cô suốt ngày khóc thút thít vợ anh ngất mấy lần phải chở đi bệnh viện. Cái hàng rào được làm lại dày hơn…

 
       Nhan phải về nhà cậu em tận Long An để sinh nở. Căn nhà nhỏ nằm lọt thỏm giữa những tán tre rậm. Bàn thờ ảnh tượng trong nhà đã bị em Nhan dọn sạch trong một cơn say rượu. Còn sót lại tấm ảnh Thánh Giuse. Tấm ảnh bằng nhựa nên dù bị ném mấy lần cũng không vỡ. Ảnh họa Thánh  Giuse Chúa Hài Nhi và nhánh huệ trắng trong tay Ngài. Nhan cũng có một cái như thế. Bố tặng hai chị em hai tấm ảnh Thánh Giuse và căn dặn hai chị em phải bắt chước Ngài trong cuộc sống khiết tịnh trong sạch trong cách ăn nết ở. Tấm ảnh đã cùng cô sống những ngày trong sáng thời thiếu nữ. Nhan cảm thấy xấu hổ khi nhìn Thánh Giuse. Cô đã làm điều có lỗi với Ngài với gia đình cô gia đình anh và với chính cô nữa. Những ngày sống tại nhà em Nhan có cơ hội để suy nghĩ về những lầm lỗi của mình và khao khát một con đường trở lại một cuộc sống thân tình với gia đình mình với cả gia đình anh nữa. Cô cầu xin Thánh Giuse giúp cô vượt qua cuộc sinh nở và can đảm quay về đối diện với anh mà không còn bị chao đảo như trước để cô có thể xóa nhòa những thương tổn đã gây ra cho mọi người nhất là vợ con anh!...

 
       Nhan quỵ xuống bàng hoàng nhìn căn nhà anh bây giờ chỉ còn lại mấy liếp tranh mục vương vãi trên nền đất cũ. Cô không ngăn được dòng nước mắt khi chính cô đã khiến gia đình anh phải gặp nỗi buồn phiền. Cô không kịp nói với vợ anh lời xin lỗi. Cô thầm thỉ cầu mong vợ chồng anh ở một nơi mới sẽ quên đi những tháng ngày không vui vẻ mà sống hạnh phúc. Sự hối hận giúp cô khao khát sống một cuộc sống tốt đẹp 
hơn. Nỗi buồn mà cô gây nên sẽ bị xóa nhòa bởi một cuộc sống với nỗ lực thay đổi. Cô sẽ sống mạnh mẽ sẽ nuôi con khôn lớn và dạy con biết quý trọng đức khiết tịnh và hạnh phúc của người khác.

More...

Phân tích đoạn trích "Nỗi thương mình" (Truyện Kiều - Nguyễn Du).

By Phan Đình Phùng

alt

 

 

Phân tích đoạn trích "Nỗi thương mình"  (Truyện Kiều - Nguyễn Du).

Thử thách lớn nhất và cũng là bi đát nhất của Thúy Kiều chính là hoàn cảnh mà nàng đã bị đẩy vào: làm kĩ nữ chốn lầu xanh. Nói gì đến giữ gìn danh tiết với Kim Trọng trong hoàn cảnh ấy ngay cái nhân cách tối thiểu của người đàn bà trong xã hội cũ Kiều làm thế nào để giữ cho khỏi bị mai một được? Làm thế nào để viết về thực tế ấy – thực tế của cái cảnh "sống làm vợ khắp người ta" mà vẫn thể hiện được nhân cách của nhân vật vẫn bộc lộ được thái độ trân trọng sự cảm thông vẫn nói lên được sự đau khổ thương thân phận mình của nhân vật? Tài năng nghệ thuật độc đáo cái nhìn vượt thời đại và đặc biệt tinh thần nhân đạo mới mẻ của Nguyễn Du đã thể hiện trọn vẹn trong đoạn trích "Nỗi thương mình".
"Rường cao rút ngược dây oan
Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền"
Từ lúc gia đình gặp biến cố phải bán mình chuộc cha trao duyên lại cho em là Thúy Vân Kiều đã trải qua 15 năm lưu lạc trong 15 năm ấy Kiều gặp phải bao sự lọc lừa nhưng lần Thúy Kiều bị lừa đau đớn nhất có lẽ là lần nàng bị Mã Giám Sinh lừa bán đến lầu xanh. Nó là bước ngoặt bẻ ngang cuộc đời Thúy Kiều rẽ sang một hướng khác. Rơi vào tay Tú Bà Kiều rút dao định tự tử nhưng không thành. Ở lầu Ngưng Bích Kiều lại mắc bẫy Sở Khanh bị Tú Bà đánh đập tơi bời đến mức phải rên lên: "Thân lươn bao quản lấm đầu tấm lòng trinh bạch từ sau xin chừa". Tiếp đó là những tháng ngày ê chề nhục nhã của nàng trong vai trò kĩ nữ - gái làng chơi đem tấm thân trong ngọc trắng ngà của mình mua vui cho những kẻ lắm tiền háo sắc. Nguyễn Du đã ghi lại tâm trạng của Kiều trong thời gian ấy.
Có một điểm cần chú ý ngay từ đầu là trong nguyên tác của Thanh Tâm tài nhân thì trọng tâm của đoạn này: một mặt là bài ca kể về thân phận Thúy Kiều từ khi gia biến đến khi bị Sở Khanh lừa và phải đồng ý tiếp khách mặt khác tập trung vào lời dạy của Tú Bà về nghề kĩ nữ. Đến Nguyễn Du cách xử lí nghệ thuật đã có sự thay đổi hoàn toàn. Gốc rễ của cách xử lí nghệ thuật độc đáo ấy là cách nhìn mới mẻ và chủ nghĩa nhân đạo mới mẻ của nhà thơ.
Từ câu thứ 5 của đoạn trích trước đây được đặt tên là "Những nỗi lòng tê tái". Trong sách giáo khoa mới "Nỗi thương mình" chỉ vẻn vẹn 20 câu nhưng đã nói lên tất cả nỗi tê tái của Kiều nhưng quan trọng hơn là đoạn trích đã thể hiện một tiếng nói nhân văn sâu sắc và tiến bộ: ý thức về thân phận phẩm giá của nàng Kiều – ý thức thương thân xót thân lần đầu tiên xuất hiện trong văn học trung đại Việt Nam.
Có một bài toán "nan giải" đặt ra với Nguyễn Du: tác giả muốn tố cáo một cách sâu sắc nơi đã vùi dập Kiều những thân phận như Kiều. Đó cũng là một hình ảnh thu nhỏ của xã hội phong kiến mà Kiều đang sống với tất cả sự nhơ nhớp mục ruỗng của nó. Cái khó là: nói về cảnh lầu xanh nhưng làm sao cho sự miêu tả hiện thực đó không gây ra phản cảm với độc giả không hạ thấp nhân vật thể hiện được nhân cách phẩm giá của nhân vật trong sự cảm thông của nhà thơ. Nguyễn Du đã thành công với những xử lí nghệ thuật độc đáo của mình.
Đoạn trích có một kết cấu lôgíc với diễn biến tâm trạng: đoạn đầu giới thiệu tình cảnh trớ trêu của Kiều "khi tỉnh rượu… nào biết có xuân là gì" đi sâu vào tâm tình nỗi niềm của Kiều trong cảnh sống ấy và đoạn cuối tả cảnh để cực tả tâm trạng cô đơn ý thức về thân phận phẩm giá của Kiều.
Bốn câu thơ đầu của đoạn thơ là cả một hiện thực tàn nhẫn mà Kiều phải chịu đựng: chốn lầu xanh với những đặc trưng của nó:
"Biết bao bướm lả ong lơi
Cuộc say đầy tháng trận cười suốt đêm
Dập dìu lá gió cành chim
Sớm đưa Tống Ngọc tối tìm Trường Khanh".
Bút pháp ước lệ tượng trưng được sử dụng nhuần nhuyễn đến mức trở thành một công cụ nghệ thuật đắc lực. Bởi vì trên thực tế nếu phải gọi sự thật bằng đúng cái tên của nó thì Kiều trong đoạn trích này là một cô gái lầu xanh. Một loạt từ ngữ dẫu là ước lệ vẫn đủ để thông báo về tình cảnh và thân phận của Kiều – mặc dù bốn câu đầu này nhân vật không hề được miêu tả trực tiếp: "bướm lả ong lơi cuộc say đầy tháng trận cười suốt đêm" và các điển tích điển cố: "lá gió cành chim" "Tống Ngọc Trường Khanh" – chỉ chung cho loại khách làng chơi phong lưu. Nguyễn Du đã tìm được một góc nhìn và cách xử lí nghệ thuật đặc biệt: viết về cảnh lầu xanh nhưng lại dùng những từ và hình ảnh rất nhã. Cách xử lí nghệ thuật này giúp tác giả vượt qua một vấn đề nan giải một mặt vẫn tả thực không né tránh hiện thực và cảnh sống thực tế của nhân vật chính mặt khác vẫn giữ được chân dung cao đẹp của nhân vật chính Thúy Kiều qua đó thể hiện thái độ cảm thông trân trọng mà tác giả dành cho nhân vật. Thái độ này là nhất quán trong tác phẩm.
Quan sát kĩ hơn những chi tiết nghệ thuật mà Nguyễn Du cố ý bày ra sẽ nhận thấy sự mâu thuẫn ẩn chứa bên trong cảnh tượng. Những từ "đầy tháng suốt đêm" là những từ chỉ số nhiều cho thấy sự nhộn nhịp của lầu xanh nơi mà Tú Bà "ăn nên làm ra" lầu xanh như một chốn đang vào dịp "được mùa" "đắt khách". Cái xấu như đang ra sức bòn rút tất cả những giá trị của con người. Lầu xanh trở thành nơi chôn vùi không biết bao nhiêu số phận như Kiều. Cảnh lầu xanh thực chất cũng là một phần của bức tranh XHPK Trung Quốc thời Minh – Thanh thu nhỏ cả thời đại mà Nguyễn Du sống cuối thế kỉ 18 đầu thế kỉ 19. Xã hội ấy cũng đã được nói đến qua những tác phẩm cùng thời: Phủ Chúa Trịnh Hoàng Lê nhất thống chí Cung oán ngâm…
Phép đối xứng kết hợp với nghệ thuật tách từ đảo từ là một sáng tạo của Nguyễn Du. Đối xứng nhỏ nhất được thiết lập bằng cách tách hai từ ghép để tạo thành một cụm từ mới có tác dụng tăng thêm cụ thể hóa hơn nét nghĩa: tại lầu xanh bọn khách làng chơi ra vào dập dìu nhộn nhịp. Tiếp theo là đối xứng trong từng câu thơ: Cuộc say đầy tháng/ trận cười suốt đêm; Sớm đưa Tống Ngọc/ tối tìm Trường Khanh… kết hợp với những từ chỉ số nhiều: đầy tháng suốt đêm diễn tả cái xô bồ gấp gáp của một cuộc sống ăn chơi nhốn nháo dung tục. Thường thì người ta dùng từ "trận" để nói về trận đánh trận mắng chửi chứ không ai nói là "trận cười". Bản thân cách dùng từ này đã đủ cho thấy nỗi ê chề sự ép buộc đày đọa mà Kiều phải chịu đựng.
Nguyễn Du đã tái hiện cái hoàn cảnh của Thúy Kiều bằng những sự đối lập nghiệt ngã: một bên là nước mắt Thúy Kiều – một bên là những cơn say trận cười triền miên. Do vậy ở bốn câu thơ đầu mặc dù chưa được miêu tả trực tiếp người đọc vẫn thấy Kiều đang bị cuốn đi trong một cơn lốc vô hình bị buộc vào cảnh sống nhơ nhớp nơi nhà chứa. Hiện thực nghiệt ngã mà nhân vật phải trải qua hé mở thân phận bẽ bàng của người kỹ nữ. Nguyễn Du đã "bọc lụa" cho cảnh sống ấy bằng một thứ ngôn ngữ ước lệ rất tài tình: ước lệ theo thành ngữ dân gian ước lệ theo điển tích làm cho sự hồi tưởng kiếp sống đớn đau của Kiều trở nên tao nhã hơn. Bởi vì chỉ có hồi tưởng mới diễn tả hết sức sống chân thật của nội tâm nhân vật mới thể hiện đúng nỗi đau mới nổi bật được phẩm giá và sự chịu đựng giày vò đáng thương của nhân vật. Đằng sau những câu thơ ấy là tấm lòng cảm thông trân trọng mà tác giả dành cho Thúy Kiều.Ở lầu xanh có nhiều người đàn bà có thể họ an tâm yên phận và cam chịu với nghề nghiệp để kiếm sống trớ trêu thay Kiều lại là một nhân phẩm quá đỗi cao đẹp một tâm hồn trong trắng một bông hoa từ cảnh sống “êm đềm trướng rủ màn che” bỗng nhiên bị ném vào bùn nhơ giữa cái xót xa của hoàn cảnh là cái “giật mình” đầy nhân bản:
“Khi tỉnh rượu lúc tàn canh
Giật mình...

More...

Tản văn về đạo 3.

By Phan Đình Phùng

 

 

 

  CÂY VÀ NÓ

      Cây sinh ra ở tận vùng đảo xa xôi cách đất liền 17 hải lý. Còn nó nó sinh ra ở vùng đồng khô  nắng cháy quanh nhà nó ở được bao bọc bởi một dãy núi đồ sộ. 

  Hai mươi tuổi Cây rời biển đảo bước chân vào giảng đường đại học ở xứ Huế mộng mơ. Còn nó chẳng học hành được nhiều vì gia đình nó khó khăn nó lại học không tốt nên mười bảy tuổi nó cũng rời khỏi gia đình để tìm cuộc sống tốt hơn... 

  Bốn năm sau nó bước chân lên xe hoa chỉ mong được thay đổi số phận. Còn Cây đã hoàn tất việc học ở giảng đường và bước chân vào chủng viện. 

  Vậy là cuộc đời của Cây và nó được khép lại theo một lối mòn định sẵn. 

  Nó về làm dâu một gia đình có đạo nó luôn mong đến ngày chủ nhật chỉ để mặc áo đẹp đi lễ... Đời nó cứ thế trôi qua trong sự nhọc nhằn của cơm áo gạo tiền chứ không như những gì nó đã từng mơ ước. Cuộc sống luôn có những gập ghềnh mà nó phải lầm lũi bước qua nó luôn dấu kín những giọt nước đọng lại ở mí mắt vì nó chẳng có ai là người tin cậy trao gửi những tâm tư.

      Năm năm sau… 

  Cây về giúp xứ nó nhìn Cây đêm đêm thui thủi một mình đóng từng cánh cửa sau mỗi thánh lễ làm lòng nó chùng xuống thấy thương Cây đến là lạ. 

  Thời gian tiếp nối thời gian nó hay nhìn Cây cười cười trong e thẹn Cây giúp nó hiểu về đạo Cây dạy nó cách sống những nhân nghĩa và cả những việc nấu ăn mà trước đây nó chưa hề biết đến bao giờ. 

  Gần một năm sau nó cảm nhận được mối quan hệ giữa nó và Cây bắt đầu phức tạp hơn. Nó thương Cây hơn tất cả và hình như Cây cũng vậy! 

  Ngày nào nó và Cây không nhận tin nhắn của nhau là ngày đó nó như người mất hồn còn Cây thì trách hờn giận dỗi!...      

  Mỗi lần đi tĩnh tâm về Cây đều có quà cho nó khi thì quyển sách khi thì chuỗi lần hạt... Nhưng đó là tất cả yêu thương mà nó cảm thấy hạnh phúc nhất đời của nó.  

  Nó bắt đầu có những suy nghĩ mông lung còn thân xác của nó thì trỗi dậy những dục vọng nó tìm đủ lí do để được gần Cây nó muốn làm người con gái trong tập truyện tiếng chim hót trong bụi mận gai nó điên cuồng và chẳng nghĩ đến tội lỗi nữa!  

  Nhưng mỗi lần nó đến gần thì Cây lại kể cho nó nghe về sự khiết tịnh của Mẹ Maria và thánh cả Giuse trong gương mặt hiền hòa trầm lắng - có lẽ Cây biết ý định tội lỗi của nó nên dạy nó ngăn ngừa tội lỗi bằng cách noi gương các Thánh như vậy - rồi bảo nó hãy siêng năng cầu nguyện. 

  Trước đây mặc dù nó đã được rửa tội nhưng chẳng bao giờ nó tin sự trong sạch của Đức Mẹ và Thánh cả Giuse chỉ vì nó không tin nam nữ gần nhau mà không có sự ham muốn đam mê dục vọng.  Nó luôn cho tin đồn chị giúp việc và cha xứ của nó làm chuyện vợ chồng là có thật. Nó không tin các linh mục sống khiết tịnh khi lúc nào cũng có những cô giáo dân xinh đẹp bao quanh.  

  Nhưng qua Cây dần dần nó hiểu là nó đã nghĩ sai về các ngài nó thấy hối hận và thật xấu hổ! Giờ nó thấy thương Cây bằng sự kính mến quý trọng hơn là bằng đam mê dục vọng của thân xác. Cây đưa tập đĩa SỰ KHỔ NẠN CỦA CHÚA GIÊSU cho nó xem mà nước mắt nó cứ chảy dài. 

  Từ đó mỗi lần nhớ Cây và thân xác trỗi dậy thì hình ảnh Chúa đội vòng gai lại xuất hiện trong đầu nó nó thấy mình bất xứng quá đỗi!  

  Bây giờ nó mới hiểu vì sao Đức Mẹ Thánh Giuse các Linh Mục cũng như Cây lại chiến thắng được những cám dỗ giữ được những nhân đức khiết tịnh.  

  Ngày Cây đi chịu chức thánh nó khóc thầm mấy đêm. Cây cũng sụt sùi nói lời chia tay đêm nào nó cũng chìm trong nước mắt rồi mới ngủ nhưng chưa bao giờ nó nghĩ lại những điều trước đây mà nó đã từng khao khát với Cây nữa. Chẳng những vậy mà nó còn can đảm thú nhận tất cả mọi yếu đuối khi nó đi xưng tội.  

  Nó biết ơn Cây biết ơn vô cùng vì đã cho nó thấu hiểu: LÀ CON NGƯỜI GIỮA THẾ GIAN MÀ KHÔNG THUỘC VỀ THẾ GIAN như cách sánh ví huệ trắng giữa bụi gai và sen giữa bùn lầy... Chỉ có niềm tin sự kính sợ và tình yêu thương quên mình thì mới làm nên những điều kì diệu như các ngài mà thôi!         

 

 

 

 

 

      HUỆ  TRẮNG - SEN HỒNG

      Con đường làng đi từ ngoài đường nhựa vào gặp một ngã ba ở đây có hàng bán hương nến hoa huệ và hoa sen. Người ta bán hoa huệ cho người đi lễ nhà thờ công giáo và hoa sen cho người đi dâng hương ở chùa. Tôi gặp em đang cầm những đóa sen tươi hồng vừa mới mua hiền hòa như đôi má trắng hồng của em. Em cũng e thẹn nhìn tôi đang cầm những bông huệ trắng muốt như tấm lòng trai trẻ ngẩn ngơ trước một đóa sen dịu dàng.

      Gia đình nhà tôi ngăn cản khi biết tôi và em quen nhau. Cha mẹ tôi quyết định rõ ràng không cho phép tôi lấy người ngoại đạo mà không theo đạo. Gia đình nhà em đặc biệt là cha của em cương quyết chỉ cho em lấy tôi khi đạo ai người ấy giữ. Không bên nào chịu nhường bên nào! Tôi và em đều con nhà gia giáo không dám lỗi đạo làm con chỉ mang nỗi buồn và thuyết phục cha mẹ của mình. Cuối cùng không được như mong ước em phải vâng lời cha mẹ đi lấy một người cùng đạo với em. Bốn năm sau tôi cũng lấy một cô gái đức hạnh thuộc gia đình công giáo.

      Ấy thế mà đã hai mươi hai năm ngã ba đường đã thành phố thị nhà cao cửa rộng. Hàng bán hoa nến ngày nào bây giờ một bên là tiệm bán ảnh tượng một bên là tiệm hoa tươi phục vụ lễ hội đám cưới sinh nhật đám tang… Và dĩ nhiên vẫn còn bán hoa huệ và hoa sen. Tiếng chuông nhà thờ vẫn rộn rã từ hướng ngã rẽ phải. Tiếng mõ tụng kinh ở chùa vẫn vọng ngân từ hướng ngã rẽ trái. Nhà em vẫn ở gần chùa và nhà tôi vẫn ở gần nhà thờ. Kinh tế khá giả hơn nên nhà tôi xây đài Đức Mẹ ở sân nhà. Nhà em cũng đặt tượng Quan Thế Âm Bồ Tát trước nhà.

      Tôi giật mình khi nhìn thấy hoa dâng cho Đức Mẹ trước nhà tôi gồm có cả hoa huệ và hoa sen. Không lạ gì khi có hai loài hoa được dâng cho Đức Mẹ nhưng nó làm tôi chợt nhớ đến những tháng năm tuổi trẻ ngày nào. Tôi càng ngỡ ngàng khi thấy nhà em cũng có hai loài hoa này trước tượng Quan Thế Âm Bồ Tát. Thời gian ngắn sau tôi và em đều như nhói tim khi biết rằng con trai em và con gái tôi đang quen nhau. Chúng nó một cách nào đó cũng biết chuyện ngày xưa của tôi và em…

      Dù  thế nào đi nữa tôi cũng không muốn con gái tôi lấy người khác đạo. Em và chồng em cũng không muốn con mình phải theo đạo khác. Tự nhiên tôi thấy cha mẹ của tôi ngày xưa có lý và em cũng nói với hai đứa: “Đạo đứa nào đứa nấy giữ.” Gia đình hai bên không ai chịu ai cho đến một hôm vợ chồng em gọi điện cho gia đình tôi báo tin chúng nó đã để thư lại và bỏ nhà ra đi.

      Ngày xưa chúng tôi cũng yêu cũng đằm thắm lắm nhưng không dám liều lĩnh như bọn trẻ bây giờ. Phải chăng chúng tôi đã chọn phần hiếu thảo với cha mẹ hơn hay chúng tôi đã giữ một quan niệm quá lỗi thời lạc hậu? Ngày xưa chúng tôi “nam nữ thọ thọ bất thân”. Ngày nay bọn trẻ chưa có gia đình hai bên nói chuyện đã ôm eo ếch chở nhau ngoài đường… Gia đình tôi và gia đình em quyết định gọi hai đứa về nhà tính chuyện cho chúng nó. Không phải có sự khác biệt giữa hai biểu tượng huệ trắng và sen hồng nhưng phải hiểu và sống đúng giá trị ẩn sâu của hai loài hoa này. 

 

 

 

 

 

 

NHÌN LÊN NGÀI  

   Đã một tháng rồi kể từ  ngày kết thúc việc giúp xứ Cường cứ  thẩn thờ đăm chiêu suy nghĩ. Ở trong Đại Chủng Viện mà lòng trí Cường luôn nghĩ về giáo xứ nơi có tán phượng rủ bóng mà mỗi lần tan lễ Lan hay ra đứng hóng gió trời. Cũng dưới gốc phượng đó Lan say sưa nghe Cường kể chuyện. Chuyện thành phố có công viên đẹp chuyện  Đại Chủng Viện có mấy ông thầy chuyện sơ Duyên hát hay được nhiều người yêu mến. Lan có vẻ đẹp dịu hiền xen lẫn chút duyên dáng của cô học trò tuổi mười tám. Hai má lúm đồng tiền dưới đôi mắt biếc hiện lên sau nụ cười duyên làm hồn Cường ngơ dại. Tuy Lan hay tâm sự nũng nịu đòi Cường kể chuyện nhưng cô bé chỉ ngưỡng mộ sự hiểu biết của Cường mà thôi. Thế nhưng Cường nghe tim mình xao xuyến của một tình yêu cái cảm giác tình yêu đầu đời này theo Cường mãi vào tận chốn này. Mấy ngày này Cường cứ phân vân: “Theo Chúa hay theo Lan?” Cường vẫn chưa trả lời được. Cường vẫn yêu Chúa nhưng vẫn không quên được nụ cười và đôi mắt dịu hiền của Lan. Đôi mắt ấy đã chiếm một chỗ trong trái tim Cường đã làm Cường mê mẩn. Một hình ảnh chợt hiện ra trong suy nghĩ của Cường: “Ngồi bên Lan Cường nhìn vào đôi mắt biếc rồi hôn thật nhẹ lên làn môi ngọt ngào của Lan. Mỗi chiều đi làm về Lan đứng trước cổng với nụ cười yêu thương chờ vòng tay ấm áp của Cường. Cường sẽ cùng Lan và hai cô thiên thần bé nhỏ đi dạo cuối tuần”. Nghĩ đến đây Cường thấy cuộc sống gia đình thật tuyệt vời. Cường quyết định rời Đại Chủng Viện.           

Khi mọi người chìm vào giấc ngủ trưa thì Cường lặng lẽ ra đi. Chân bước mà lòng như còn quyến luyến điều gì đó. Bước xuống giữa cầu thang Cường cúi mình thật sâu chào Thánh Giuse cách kính trọng để tạm biệt Ngài. Bỗng dưng quyển sách lớp tặng nhân ngày Bổn mạng mà hồi nãy Cường vội nhét sau ba lô rơi xuống. Trang sách mở ra Cường lướt mắt qua dòng chữ: “Giuse cũng có khát vọng về tình yêu và tương lai như bao  người khác. Người ước nguỵên chung sống và xây tổ ấm cùng Maria. Nhưng rồi  người đau khổ bối rối và lo âu khi biết Maria có mang. Trước tình cảnh đó Người chọn con đường cầu nguyện để nhận ra Thánh Ý Chúa. Cũng nhờ đời sống cầu nguyện mà Người vượt qua những khó khăn trong sứ vụ Chúa giao phó để giữ trọn đức khiết tịnh và nâng đỡ gia đình hơn ba mươi năm”.  Nhìn lại mình Cường hổ thẹn vô cùng chỉ một cô gái mà nỡ dứt bỏ Ơn Gọi. Giuse cũng có những lúc bối rối nhưng rồi Người cầu nguyện cùng Chúa. Thế mà một tháng nay chàng chưa bao giờ nghĩ tới việc cầu nguyện chưa bao giờ xin Chúa giúp mình vượt qua cơn dục vọng này. Chàng đau đớn quỵ gục xuống chàng thấy mình là kẻ hèn hạ mang nặng  xác thịt và dục vọng. Trong lúc dằn vặt ấy chàng như nghe tiếng Thánh Giuse vọng về:     

-   Tại sao con ra đi?     

-   Da… a … dạ…      

-   Con hãy cầu nguyện với Thiên Chúa!     

-   Con… con… con….         

Tiếng chuông vang lên làm Cường giật mình và bật người dậy bước về phòng.        

   Sau một tháng hướng tâm trí tới Chúa và khẩn xin Thánh Giuse cầu bầu cho chàng  giữ đức khiết tịnh bước trọn trên đường ơn gọi; hôm nay chàng thấy lòng mình an bình vô cùng và muốn dạo bước qua khu vườn. Chàng đang rảo bước trên sân thì nhận được thư của mẹ Lan “Cám ơn thầy rất nhiều kể từ ngày thầy về giúp xứ Lan nhà tôi muốn đi tu hẳn lên. Ngày hôm qua nó theo dì qua Nhật tu rồi!” Cường không ngờ Lan muốn Cường kể chuyện là để tìm hiểu Ơn Gọi. Tin Lan đi tu làm Cường bất ngờ nhưng điều đó làm Cường thêm phần thanh thản theo Chúa.

      Bây giờ Cường mới nhận ra giá trị của đời sống cầu nguyện. Chính mẫu gương cầu nguyện và  lòng khiết tịnh của Thánh Cả Giuse như hương huệ thơm tỏa lan vào đời tu của Cường. Hơn bao giờ hết hôm nay Cường thấy đời tu hạnh phúc và yêu Chúa vô cùng.   

 

 

 

 

 

 

 

 

MỘT GIẤC MƠ 

      Tôi cố gắng vùng vẫy nhưng chẳng hiểu sao người tôi cứ bất động. Hai thằng quỷ tiếp tục lôi tôi vào vũng tối thẳm sâu. Một thằng cười hềnh hệch:

      - Mày nợ tụi tao nhiều quá rồi giờ là  lúc mày phải trả thôi.

      Nó nghẹo đầu nhìn tôi đắc ý rồi tiếp tục gầm gừ:

      - Bao nhiêu lần mày ăn chơi sa đoạ đều do công sức tụi tao cám dỗ mới có được chẳng phải dễ dàng gì đâu!

       Tên còn lại không nói gì chỉ gừ gừ trong cổ họng như nó là quỷ câm vậy. Bóng tối đen kịt có cảm giác thứ bóng tối này rất đặc muốn thoát ra dễ thường phải lấy xẻng mà xúc mới được. Nhưng kỳ lạ thay dù tối đến thế tôi vẫn nhìn thấy tường tận sự xấu xa ghê tởm của hai thằng quỷ nhất là cặp mắt oán hận của tên quỷ câm. Chúng đỏ rực trong đêm tối như hai hòn than hồng. Tôi chống cự trong tuyệt vọng niềm kinh hãi chưa từng có trong đời tôi. Đang khi tôi gần như buông xuôi thì trước mắt tôi bỗng sáng lòa. Hai thằng quỷ đờ ra như tượng đá trong thoáng chốc rồi chúng buông tay để mặc tôi rơi xuống đất. Cả hai đưa tay bụm mặt thân hình co rúm lại trong một tư thế quái gở và toàn thân lông lá của chúng dựng đứng cả lên. Chúng gầm rú trong cổ họng những tiếng gì tôi không thể hiểu được. Đến bây giờ tôi mới nhìn thấy đứng giữa vùng sáng rực rỡ là một Thánh Nhân. Rất nhanh chóng tôi nhận ra ngay Ngài chính là Thánh Cả. Dáng đứng của Ngài vừa uy nghi vừa hiền hậu. Trên đầu Ngài một vầng hào quang rực rỡ chính ánh sáng từ vầng hào quang này đã bao phủ toàn thân Ngài. Tôi bỗng nhiên quên mất hai thằng quỷ và sự khủng khiếp mà chúng mang đến cho tôi. Lòng tôi tràn ngập một niềm hạnh phúc và sự bình an thanh thoát. Tôi cứ trố mắt ra chiêm ngắm dung nhan Thánh Cả gương mặt hiền hậu cương nghị với hàm râu quai nón rậm làm tôi vững dạ. Thánh Nhân hướng ánh mắt nghiêm khắc về hai tên quỷ chúng càng gào rú kinh hãi hơn. Những âm thanh ghê rợn đến chết khiếp nhưng ở cạnh Thánh Nhân tôi không còn thấy sợ hãi nữa. Hai thằng quỷ vẫn cố điên cuồng chống lại ánh mắt của Thánh Nhân chúng không chịu bỏ con mồi lại. Thánh Nhân nhẹ vung tay về phía chúng một mùi hương ngào ngạt thanh thoát bỗng toả lan ra không gian hai thằng quỷ gào to một tiếng khủng khiếp rồi biến nhanh như điện xẹt. Thì ra trên tay Thánh Nhân đang cầm một nhánh huệ trắng và hai thằng quỷ đã chạy vội vàng khi Thánh Nhân vung nhánh huệ về phía chúng. Nhánh huệ tượng trưng cho đức khiết trinh của Thánh Cả. Tôi vội vàng quỳ dậy để cám ơn Thánh Cả Người nhìn tôi trìu mến nhưng vẫn chẳng nói lời nào chỉ khẽ đập nhánh huệ lên đầu tôi rồi thân hình cứ mờ dần như tan vào không khí. Tôi chồm theo rối rít gọi tên Ngài và vấp chân vào một mô đất. Tôi ngã sấp xuống nền đất và bừng tỉnh dậy.

           Thì ra tôi đã lăn từ trên tấm phản xuống đất thật! Giấc ngủ trưa mệt nhọc đã đưa tôi vào giấc mơ một giấc mơ vừa kinh hoảng lại vừa có hậu. Mồ hôi ướt đẫm người tôi nhưng tôi không để ý. Tôi quỳ ngay ngắn trước ảnh Thánh Gia nghiêm trang làm dấu Thánh Giá và dâng lời tạ ơn đến Ba Đấng. Mắt đăm đăm nhìn gương mặt hiền lành của Thánh Cả và nhánh huệ Người cầm trên tay tôi long trọng hứa sẽ hoán cải tâm hồn và nhất là gìn giữ đức khiết tịnh theo gương của Thánh Nhân xa lánh con đường truỵ lạc. 

      

 

 

 

 

 

 

      MỘT THOÁNG VỀ ANH 

         Anh! Thế là đã hơn một năm chúng mình đi quá  giới hạn tình bạn rồi. Chúng mình đang đi trên con đường “chết trong lòng một ít”. Hình ảnh của anh lúc nào cũng tràn ngập trong tâm trí của em.

        Nhớ những lúc dỗi hờn tắt điện thoại làm anh cuống cuồng chạy đến nhà trọ của em rối rít xin lỗi mặc dù có đôi lúc em dỗi hờn vô cớ. Có những lúc em rơi lệ vì anh những giọt nước mắt cùng với nỗi buồn da diết vì vắng anh khi hai đứa giận nhau. Những lúc giận anh em càng nhớ anh nhiều hơn.

         Có người nói: “Khi những người đang yêu giận hờn nhau là lúc mà họ đang thêm vị cho tình yêu làm tình yêu bớt tẻ nhạt”. Có lẽ vậy sau những lúc giận hờn em càng yêu anh hơn những giây phút ở bên nhau dường như thú vị hơn vì mình đã hiểu nhau thêm.

         Những lúc gần gũi nhau em thường mơ tưởng đến những nụ hôn say đắm anh đặt lên môi em tim em đập loạn nhịp trời đất như quay cuồng em lâng lâng như đi vào thế giới thần tiên em sợ sẽ không kiềm chế được bản thân sẽ đi vào vết xe đổ của nhiều người mà trước đây em từng khinh bỉ họ. Nhưng anh chưa bao giờ đi quá giới hạn. Anh đã nói với em rằng: “Anh yêu em và luôn tôn trọng em anh cũng muốn em được mọi người tôn trọng. Anh sẽ giữ gìn em đến khi anh có được em. Hoặc vì lí do nào đó chúng ta không đến được với nhau thì người đến sau cũng sẽ yêu và tôn trọng em”. Anh làm em càng yêu và kính trọng anh hơn.

        Nhiều lúc em nói với anh chúng mình không hợp nhau về tôn giáo nhà anh theo đạo Phật còn nhà em theo đạo Thiên Chúa khó mà đến với nhau được. Anh bảo: “Anh yêu em và sẽ làm tất cả để có em. Anh sẽ theo đạo cùng em”

      Để chứng minh lời nói anh đã đi lễ cùng em. Mỗi tối thứ bảy anh bắt em đi ngủ sớm để sáng kịp đi lễ. Sáng chúa nhật mở cửa anh đã chỉnh tề đứng chờ.

         Nhớ lần đầu cùng em đến nhà thờ anh rụt rè bước vào thánh đường em đã đứng cùng anh để anh khỏi bỡ ngỡ. Thánh lễ đầu tiên anh chăm chú nghe linh mục giảng Tin Mừng chăm chú như uống từng lời. Ra về anh bảo em: “Anh chưa hiểu hết về những nghi lễ của thánh lễ em giúp anh nha!”

      Em giúp anh giải đáp những thắc mắc của bài giảng bằng cách lấy Tân Ước làm ví dụ dẫn chứng. Cho anh mượn quyển Kinh Thánh anh cùng em chia sẻ Tin Mừng mỗi tuần

      Tự  lúc nào anh đã trở thành một con chiên ngoan đạo Nhiều lúc em tự thấy hổ thẹn vì mang danh là người Công Giáo mà lắm khi em lười biếng trong việc thờ phượng Chúa. Anh làm em phải suy nghĩ về đời sống đạo của mình trở nên sốt sắng hơn khi tham dự thánh lễ.

        Có lần bỗng dưng anh nói với em: “Khi nào được rửa tội anh sẽ chọn Thánh Giuse làm quan thầy”. Em bỡ ngỡ hỏi: “Sao vậy?” Và em nhớ như in khuôn mặt trầm ngâm của anh lúc đó: “Vì anh thấy Thánh Giuse tuyệt vời quá tình yêu của Người cao đẹp quá! Giá như thế hệ trẻ hiện nay được học biết về Người có lẽ họ đã tránh cho mình rất nhiều bất hạnh! Nhờ Người mà anh hiểu được YÊU LÀ CHO ĐI CHỚ KHÔNG PHẢI CHIẾM HỮU…”

        Em hạnh phúc khi mình cùng bước bên nhau đến thánh đường. Em hỏi anh đã cầu nguyện gì với Chúa? Anh trả lời: “Anh xin Chúa cho mình được biết sống cho nhau và sống vì nhau mãi mãi”.

      Em thầm tạ ơn Chúa đã gửi đến cho em một môn đệ của Thánh Giuse giữa những “yêu vội sống cuồng” hôm nay. 

     

 

 

 

 

 

 

      CHỨNG NHÂN GIỮA ĐỜI THƯỜNG 

      “Sao rồi tính khi nào cho anh uống rượu hồng đây cô bé?” Vẫn với ánh mắt đanh đá đôi môi cong nũng nịu em trả lời tôi: “Anh mà đợi uống rượu hồng của em thì hơi lâu rồi đó em nói rồi anh đi tu thì em cũng ở vậy luôn xem như là em đi tu cho giống anh mà!”

      “Chết sao em lại nói như vậy anh khác em chứ làm sao giống được anh muốn noi gương Cha Thánh Giuse vị thánh bổn mạng của mình để sống đời sống dâng hiến cho Thiên Chúa sống phục vụ mọi người với một tình yêu không chia sẻ còn em không đi tu thì phải có gia đình chứ!”

      Em thoáng buồn đôi mắt không còn vẻ đanh đá nữa mà  sâu thẳm bên trong là một nỗi buồn sâu lắng. “Ơ em biết rồi chúng mình hãy noi gương Thánh Gia noi gương Cha Giuse và Đức Mẹ sống một cuộc đời khiết trinh trọn vẹn dâng lên Thiên Chúa tình yêu bé nhỏ vì một tình yêu lớn hơn phải không anh?”

      Kể  từ ngày tôi cất bước sống đời sống dâng hiến em đã rất buồn và đau đớn lắm nhưng em hiểu chỉ  có tình yêu Thiên Chúa tình yêu thương đối với tất cả mọi người mới là tình yêu cao cả nhất. Em vẫn sống vẫn vui vẻ vẫn đơn sơ với những công việc phục vụ ở Giáo xứ em thích cắm hoa để dâng lên Thiên Chúa Đức Mẹ và Cha Thánh Giuse. Và bao giờ em cũng nhớ dâng lên Cha Thánh Giuse một bó Huệ trắng ngần như lúc trước mỗi dịp lễ quan thầy của tôi em vẫn luôn nhớ tặng tôi một cành hoa huệ trắng rồi đùa: “Nhớ sống cho giống Cha Giuse nha anh!”

      Ngày về thăm quê tôi gặp lại em vẫn ánh mắt trìu mến yêu thương như ngày nào chúng tôi cùng cắp sách đến trường. Tôi thầm cảm tạ Chúa vì đã ban cho tôi có một người yêu thương tôi như vậy và còn cao quý hơn khi em cùng tôi dâng lên Thiên Chúa tình yêu đơn sơ trong trắng để hiến dâng cho Chúa cả cuộc đời cảm ơn em! Mỗi lần gặp em tôi vẫn thấy trái tim mình xao động lắm tâm trí tôi bối rối mỗi khi nghĩ đến em. Tôi đã phải đấu tranh rất nhiều cầu nguyện rất nhiều để xin ơn Chúa xin Cha Thánh Giuse giúp tôi vượt qua cuộc chiến đấu quyết liệt giữa lý trí và trái tim vượt qua sự giằng co giữa hai sự lựa chọn: “Chúa ơi con ước ao sống một đời sống như Cha Thánh Giuse con muốn dâng cho Chúa cả cuộc đời con nhưng con cũng là một con người yếu đuối mỏng dòn làm sao con có thể chiến thắng cái bản ngã trong lòng con xin ban cho con lòng yêu mến thật nhiều lòng trông cậy vững vàng và một niềm tin son sắt. Lạy Cha Thánh Giuse xưa Cha đã vững lòng trông cậy mến để sống một niềm tin trọn vẹn giữa cuộc đời đầy gian khó và bách hại xin giúp sức cho con…”

      Hôm nay với chiếc áo dòng trên người ai cũng bảo tôi trông thật đơn sơ thánh thiện tất cả đều là ơn của Chúa tự sức tôi tôi không thể làm được gì.

      Em vẫn thế vẫn đơn sơ ngoan hiền với công việc phục vụ Giáo xứ vẫn với nụ cười tươi và  ánh mắt đanh đá khi trả lời câu hỏi của tôi: “Bao giờ cho anh uống rượu mừng?”

More...

Phân tích hình tượng người chiến sĩ trong "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc" của Nguyễn Đình Chiểu.

By Phan Đình Phùng

 

 

 

 

Phân tích hình tượng người chiến sĩ trong Văn tế nghĩa sĩ Cần
Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu.

 

Bài Làm
Thế kỉ XIX là thờ; kì lịch Sử "đau thương nhưng vĩ đại"
1 của dân tộc ta. ờ thế kỉ ấy có một nhà thơ mù nhưng
tấm lòng sáng như gương người đã thấy hết những gì mà bao
nhiêu người mắt sáng không nhận ra người đó là nhà thơ Nguyễn
Đình Chiểu. Và trong văn học Việt Nam cho đến Nguyễn Đình
Chiểu chưa có một hình tượng nhân dân nào chân thực và cảm
động hơn người nghĩa sĩ trong bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của
ông.
Nói đúng ra trước Nguyễn Đình Chiểu con người bình thường
cũng xuất hiện trong văn chương Việt Nam. Tuy nhiên đó hoặc là
những ngư phủ tiều phu hình bóng thấp thoáng khi xa khi gần
trong thơ Bà Huyện Thanh Quan hoặc là đám đông lố nhố hằng
ngày là cục đất củ khoai khi có dịp trở nên những "kiêu binh" lỗ
mãng trong Hoàng Lê nhất thống chí.
Người nông dân xuất hiện trong tác phẩm Nguyễn Đình Chiểu
hoàn toàn khác hẳn. Họ thật sự là những người bình thường là
dân ấp dân lân ngoài cật có một manh áo vải. Bản tính lại hiền
lành chất phác quanh năm suốt tháng côi cút làm ăn toan lo
nghèo khó. Bên trong luỹ tre làng họ chỉ biết ruộng trâu ở trong
làng bộ thành thục với nghề nông trang: Việc cuốc việc cày việc
bừa việc cấy tay vốn quen làm. Nói như nhà thơ Thanh Thảo sau
này "họ lấm lấp sình lầy ấy đã bước vào thơ Đồ Chiểu. Đành rằng
nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã có tâm lòng sáng để phát hiện ra
họ nhưng trước hết bởi dù không áo mão cân đai phẩm hàm văn
võ họ vẫn để lại những vệt bùn làm vinh dự cho thơ . Đó chính là
tấm lòng yêu nước trọng nghĩa của người nông dân.
Khi nghe tin quân giặc đến dù là dân thường nhưng những người
nông dân vẫn lòng đầy sốt ruột. Trong xã hội xưa những chuyện quốc
gia đại sự trước hết là việc của quan. Dân nghe theo quan mà làm.
Dân nhìn thấy quan mà theo. Vì thế họ trông chờ tin quan như trời
hạn trông mưa. Mắt còn trông đợi nhưng lòng thì đã rõ:
Bữa thấy bông bong che trắng lốp muốn tới ăn gan; ngày xem
ống khói chạy đen sì muốn ra cắn cổ.

 
Lòng yêu nước không độc quyến của ai. Huống chi với những
người nông dân chân chất khi mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm
thì họ ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ. Vì thế dù là dân ấp
dân lân trong tay chỉ còn một tầm vông họ đã sẵn sàng xả thân
vì nghĩa cả:
Hỏa mai đánh bàng rơm con cúi cũng đốt xong nhà dạy đạo kia
gươm đeo dùng bàng lưỡi dao phay cũng chém rớt đầu quan hai nọ.
Chi nhọc nhằn quan quan gióng trống kì trống giục đạp rào
lướt tới coi giặc như không nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ đạn
to xô cửa xông vào liều mình như chằng có.
Kẻ đâm ngang người chém ngược làm cho mã tà ma ní hồn
kinh; bọn hè trước lũ ó sau trối kệ tàu sắt. tàu đồng súng nổ.
Cuộc đối đầu một mất một còn giữa những người nông dân yêu
nước với kẻ thù là cuộc đối đầu không cân sức. Họ thất thế ngay từ
ban đầu khi tự giác đứng lên không có ai tổ chức (ai đòi ai bắt)
chẳng có binh thư binh pháp. Còn quân giặc thì chuẩn bị bài bản
có quy mô quy củ. Họ thất thế khi xung trận mà ngoài cật có một
manh áo vải trong tay cầm ngọn tầm vông còn kẻ thù lại có tàu
sất tàu đồng đạn nhỏ đạn to. Song chí căm thù lòng yêu nước đã
khiến những người nông dân trối kệ tàu thiếc tàu đồng súng nổ
liều mình như chẳng có ai. Ai cũng biết cái giá cuối cùng của hành
động ấy Những nghĩa sĩ nông dân càng biết rõ điều đô:
Một chắc sa trường rằng chữ hạnh nào hay da ngựa bọc thây;
trăm năm âm phủ ấy chữ quy nào đợi gươm hùm treo mộ.
Những nghĩa sĩ nông dân trở thành :những anh hùng thất thế
nhưng vẫn hiên ngang" (Phạm Văn Đồng). Hình tượng người nghĩa
sĩ chân đất lần đầu tiên xuất hiện trong văn học Việt Nam đã mang
hình dáng đầy bi tráng. Nó như một tượng dài sừng sững tạc vào
không gian lẫn với thời gian để nói với muôn đời rằng: Thác mà trả
nước non rồi nở danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen; thác mà
ưng đình miếu để thờ tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ.
Sự gắn bó lòng yêu thương và cảm phục đã khiến Nguyễn Đình
Chiểu ghi tạc vào thơ văn mình hình tượng người nghĩa sĩ Cần Giuộc
thật bi tráng. Hình tượng ấy mang sức nặng của một thời đại "nước
mắt anh hùng lau chẳng ráo" và tấm lòng yêu thương bi thiết của nhà
thơ mù đất Đồng Nai - Gia Định. Những người anh hùng "sống đánh
giặc thác cũng đánh giặc". Còn nhà thơ của họ đã dựng lại tượng đài
ấy "nghìn năm" trong kí ức tâm hồn của người đời bằng văn chương.

More...

Phân tích "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc" của Nguyễn Đình Chiểu.

By Phan Đình Phùng

 

 

 

 

Phân tích tác phẩm Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu

 

Năm 1859 giặc Pháp tấn công thành Gia Định Nguyến Đình Chiểu viết bài thơ “Chạy giặc” hai câu kết nói lên mong ước thiết tha:
“Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng / Nỡ để dân đen mắc nạn này?”
Và mấy năm sau Nhà thơ viết bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” - đình cao nghệ thuật và tư tưởng trong sự nghiệp thơ văn của ông. Có thể coi bài văn tế là tấm lòng trung nghĩa của Nguyễn Đình Chiểu đối với những nghĩa sĩ anh hùng của nhân dân ta trong buổi đầu chống Pháp xâm lược. Nhà thơ mù đất Đồng Nai đã dựng lên một “tượng đài nghệ thuật” mang tính chất bi tráng về người nông dân yêu nước chống ngoại xâm.
Sau khi chiếm đóng 3 tỉnh miền Đông giặc Pháp đánh chiếm 3 tỉnh miền tây Nam Bộ. Năm 1861 vào đêm 14/12 nghĩa quân đã tấn công đồn giặc ở Cần Giuộc thuộc tỉnh Long An ngày nay.Trận đánh diễn ra vô cùng ác liệt “làm cho mã tà ma ní hồn kinh” Gần 30 chiến sĩ nghĩa quân đã anh dũng hi sinh. Nguyễn Đình Chiểu đã viết bài văn tế này - bài ca về người anh hùng thất thế nhưng vẫn hiên ngang.
“Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” là một “tượng đài nghệ thuật” hiếm có. “Bi tráng” là tầm vóc và tính chất của tượng đài nghệ thuật ấy: vừa hoành tráng hùng tráng vừa thống thiết bi ai. Hùng tráng ở nội dung chiến đấu vì nghĩa lớn. Hùng tráng ở phẩm chất anh hùng ở đức hi sinh quyết tử. Hùng tráng ở chỗ nó dựng lên 1 thời đại sóng gió dữ dội quyết liệt của đất nước và dân tộc. Hoành tráng về quy mô nó không chỉ khắc hoạ về 1 nghĩa quân 1 anh hùng mà đông đảo những người “dân ấp dân lân mến nghĩa quân làm quân chiêu mộ” dưới ngọn cờ “bình tây” của Trương Công Định. Tính chất quy mô hùng tráng hoành tráng ấy lại gắn liền với bi ai đau thương thống thiết. “Cái tượng đài nghệ thuật” về người nông dân đánh Pháp giữa thế kỉ XIX đã được dựng lên trong nước mắt trong tiếng khóc của nhà thơ của nhân dân và cả của đất nước. Trong toàn bài văn tế đặc biệt trong phân thích thực và ai vãn ta cảm nhận sâu sắc tính chất bi tráng này.
Mở đầu bài văn tế là 1 lời than qua 2 câu tứ tự song hành. Hai tiếng “Hỡi ôi!” vang lên thống thiết đó là tiếng khóc của nhà thơ đối với nghĩa sĩ là tiếng nấc đau thương cho thế nước hiểm nghèo:
“Súng giặc đất rền; lòng dân trời tỏ”
Tổ quốc lâm nguy. Súng giặc nổ vang rền trời đất và quê hương sứ sở.
“Tan chợ vưà nghe tiếng súng Tây…” (“Chạy giặc”). Trong cảnh nước mất nhà tan chỉ có nhân dân đứng lên gánh vác sứ mệnh lịch sử đánh giặc cứu nước cứu nhà. Tấm lòng yêu nước căm thù giặc của nhân dân của những người áo vải mới tỏ cùng trời đất và ság ngời chính nghĩa. Có thể nói cặp câu tứ tự này là tư tưởng chủ đạo của bài văn tế nó được khắc trên đá hoa cương đặt ở phía trước chính diện của “tượng đài nghệ thuật” ấy.
Hình ảnh trung tâm của “tượng đài nghệ thuật” “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” là những chiến sĩ nghĩa quân. Nguồn gốc của họ là nông dân nghèo sống cuộc đời “côi cút” sau luỹ tre làng. Chất phác và hiền lành cần cù là chịu khó trong làm ăn quanh quẩn trong xóm làng làm bạn với con trâu đường cày sá bừa rất xa lạ với “cung ngựa trường nhung”:
“Nhớ linh xưa:
Côi cút làm ăn; toan lo nghèo khó
Chưa quen cung ngựa đâu tới trường nhung; chỉ biết ruộng trâu ở trong làng bộ”.
Họ là lớp người đông đảo sống gần fũi quanh ta. Quanh năm chân lấm tay bùn với nghề nông “chưa hề ngó tới” việc binh và vũ khí đánh giặc:
“Việc cuốc việc cày việc bừa việc cấy tay vốn quen làm; tập khiên tập súng tập mác tập cờ mắt chưa từng ngó”.
Thế nhưng khi đất nước quê hương bị giặc Pháp xâm lược những “dân ấp dân lân” ấy đã đứng lên “mến nghĩa làm quân chiêu mộ”. Đánh giặc cứu nước cứu nhà bảo vệ “bát cơm manh áo ở đời” là cái nghĩa lớn mà họ “mến” là đeo đuổi. Nguyễn Đình Chiểu đã viết nên những câu cách cú hay nhất (giản dị mà chắc nịch) ca ngợi long yêu nước căm thù giặc của người nghĩa sĩ:
“Bữa thấy bong bong che trắng lốp muốn tới an gan; ngày xem ống khói chạy đen sì muốn ra cắn cổ”.
Đối với giặc Pháp và lũ tay sai bán nước họ chỉ có 1 thái độ: “ăn gan” và “cắn cổ” chỉ có 1 chí hướng: “phen này xin ra sức đoạn kình… chuyến này dốc ra tay bộ hổ”.
Hình ảnh người chiến sĩ nghĩa quân ra trận là những nét vẽ nét khắc hùng tráng nhất hoành tráng nhất trong “tượng đài nghệ thuật” bài văn tế. Bức tượng đài có 2 nét vẽ tương phản đối lập: đoàn dũng sĩ của quê hương và giặc Pháp xâm lược. Giặc cướp được trang bị tối tân có “tàu thiếc tàu đồng” “bắn đạn nhỏ đạn to” có bọn lính đánh thuê “mã tà ma ní” thiện chiến. Trái lại trang bị của nghĩa quân lại hết sức thô sơ. Quân trang chỉ là “1 manh áo vải” . Vũ khí chỉ có “một ngọn tầm vông” hoặc “một lưỡi dao phay” một súng hoả mai khai hoả “bằng rơm con cúi”. Thế mà họ vẫn lập được chiến công: “đốt xong nhà dạy đạo kia” và “chém rớt đầu quan hai nọ”.
“Tượng đài nghệ thuật” đã tái hiện lại những giờ phút giao tranh ác liệt của các chiến sĩ nghĩa quân với giặc Pháp:
“Chi nhọc quan quản gióng trống kì trống giục đạp rào lướt tới coi giặc cũng như không; nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ đạn to xô cửa xông vào liều mình như chẳng có.
Kẻ đâm ngang người chém ngược làm cho ma ní mã tà hồn kinh; bọn hè trước lũ ó sau trối kệ tàu thiếc tàu đồng súng nổ”.
Đây là những câu gối hạc tuyệt bút. Không khí chiến trận có tiếng trống thúc quân giục giã “có bọn hè trước lũ ó sau” vang dậy đất trời cùng tiếng súng nổ. Các nghĩa sĩ của ta coi cái chết như không tấn công như vũ bão tung hoành giữa đồn giặc: “đạp rào lướt tới” “xô cửa xông vào” “đâm ngang chém ngược” “hè trước ó sau”… Giọng văn hùng tráng phép đối tài tình các động từ mạnh được chọn lọc và đặt đúng chỗ… đã tô đậm tinh thần quả cảm vô song của các nghĩa sĩ Cần Giuộc. Nguyễn Đình Chiểu đã dành cho các chiến sĩ nghĩa quân những tình cảm đẹp nhất: ngợi ca khâm phục tự hào. Qua đó ta thấy trước Nguyễn Đình Chiểu chưa có nhà thơ nào văn nào viết về người nông dân đánh giặc hay và sâu sắc như thế.
Trong bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” còn có những giọt lệ lời than khóc một âm điệu thông thiết bi ai được thể hiện ở phần ai vãn. Nhiều nghĩa sĩ đã ngã xuống trên chiến trường trong tư thế người anh hùng: “Những lăm lòng nghĩa lâu dùng; đâu biết xác phàm vội bỏ” Đất nước quê hương vô cùng thương tiếc. Một không gian rông lớn bùi ngùi đau đớn:
“Đoái sông Cần Giuộc cỏ cây mấy dặm sầu giăng; nhìn chợ Trường Bình già trẻ 2 hàng kuỵ nhỏ”.
Tiếng khóc của người mẹ già nỗi đau đớn của người vợ trẻ được nói đến vô cùng xúc động. “Hàng trăm năm sau chúng ta đọc Nguyễn Đình Chiểu có lúc như vẫn còn thấy ngòi bút của nhà thơ nức nở trên từng trang giấy” (Hoài Thanh):
“Đau đớn bấy mẹ già ngồi khóc trẻ ngọn đèn khuya leo lét trong lều; não nùng thay vợ yếu chạy tìm chồng cơn bòn xế dật dờ trước ngõ”.
Các nghĩa sĩ đã sống anh dũng chết vẻ vang. Tấm gương chiến đấu và hi sinh của họ là “tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm” đời đời bất diệt sáng rực mãi trường tồn cùng sông núi. Rất đáng tự hào:
“Ôi! Một trận khói tan; nghìn năm tiết rỡ”
Bài học lớn nhất của người nghĩa sĩ để lại cho đất nước và nhân dân là bài học về sống và chết. Sống hiên ngang. Chết bất khuất. Tâm thế ấy đã tô đậm chất bi tráng cho “tượng đài nghệ thuật” về người nông dân đánh giặc:
“Sống đánh giặc thác cũng đánh giăc linh hồn theo giúp cơ binh muôn kiếp nguyện được trả thù kia;…”.
Dám xả thân vì nghĩa lớn “cây hương nghĩa sĩ thắp thêm thơm” các chiến sĩ nghĩa quân trong “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” là niềm tự hào và biết ơn sâu sắc của nhân dân ta.
Tóm lại “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” khẳng định văn chương lỗi lạc tấm lòng yêu thương dân mãnh liệt thiết tha của Nguyễn Đình Chiểu. Đúng là “người thư sinh dùng bút đánh giặc” (Miên Thẩm). Một giọng văn vừa hùng tráng vừa thống thiết bi ai. Nguyễn Đình Chiểu đã dựng lên một “tượng đài nghệ thuật” mang tính chất bi tráng về người nông dân yêu nước chống giặc ngoại xâm. “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” là một kiệt tác trong văn tế cổ kim của dân tộc. Nhà văn Hoài Thanh có viết: “Nhà nho nghèo ấy đã sống cuộc sống của quần chúng và đã đi cùng quần chúng phấn đấu gian nan. Chính quần chúng cũng cần cù dũng cảm đã tiếp sức cho Nguyễn Đình Chiểu cho trí tuệ cho tình cảm cho lòng tin và cả cho nghệ thuật của Nguyên Đình Chiểu”

More...