Thơ: NỖI NHỚ KHÔNG TÊN.

By Phan Đình Phùng

 

 

 

Nỗi nhớ không tên

                             Tặng B.Th

Anh đâu biết là anh mơ

Để đêm đêm anh thẩn thờ

Em làm tim anh hụt hẫng

Từng đêm rơi lệ vỡ oà.

 

Em! “Tại anh mơ chứ bộ”

Vô tình xé nát tim anh

Rồi vụn vỡ thành từng mảnh

Ướp vào linh cửu ngàn năm.

 

Những đêm thầm gọi tên em

Dư âm vọng lời không nói

Giật mình nhìn lại chính mình

Chìm vào nỗi nhớ không tên.

Vi Ánh Ngọc

More...

Thơ: NỐT TRẦM NỐT BỔNG.

By Phan Đình Phùng

 

 

Nốt trầm nốt bổng

Nốt trầm ta để riêng ta

Nốt bổng ta viết tặng người

Lời ca nốt nhạc người vui

Ta ôm đau xót ngậm ngùi.

 

Thênh thang đường đời ta bước

Phố vắng không người ta qua

Tìm vui trong ly rượu đắng

Chia phôi phút cuối nghẹn ngào.

 

Nốt trầm nốt bỗng dâng cao

Nốt nào lặng giữa hư không

Nốt nào tơ lòng hiu quạnh

Ta về đếm bước lẻ loi.

Vi Ánh Ngọc

More...

Thơ vui tặng Phùng (Đào Thị Thanh Thủy).

By Phan Đình Phùng

 

 

 

KHỜ

Si tình là thực hay mơ

Phải chăng Phùng thích làm khờ một đêm

Để mai ra khỏi chiếu mền

Phùng ta lại vẫn là tên khéo đời.

 

 

 

DẠO KHỜ

Vắng em anh cứ mơ màng

Ngẩn ngơ thất thưởng ra đàng làm thơ

Em ơi! Chớ vội làm ngơ

Vì tim anh trót mộng mơ đêm ngày

Bao giờ hoa nắng rơi đầy

Thì xin em thấu tình này trao em

Đêm dài lê bước lặng êm

Cô phòng gối chiếc đêm đêm dại khờ.

Đào Thị Thanh Thủy

More...

Thơ: ONLINE CHIỀU THỨ BẢY.

By Phan Đình Phùng

 

Online chiều thứ bảy

Chiều thứ bảy

Ta đang online

Bỗng có một nick name “sông quê”

“Cho bé làm quen có được không?”

Ta kích chuột “ok”.

 

Dạo chơi trên bến “sông quê”

Lặng nghe từng tiễng đề huề trong tim

Bỗng dưng cô bé im lìm

“Sông quê” lạ rứa lặng im ta nhìn.

 

Ta kích chuột “sao không trả lời?”

Cô bé không nhắn lại

“Sông quê” thoát rồi!

Bỗng ta thấy nhấp nháy

“Bé tặng anh nụ hôn đầu đời”

Rồi thoát nick không trở lại.

 

Online chiều thứ bảy

Ta bỗng vui

Lòng cảm thấy hay hay

Ta tự hỏi “thứ bảy này có trở lại hay không?”

Nhếch môi cười…ngập ngừng ta gọi “sông quê”.

Vi Ánh Ngọc

More...

Phân tích giá trị nhân đạo trong "Vợ chồng A Phủ" của Tô Hoài.

By Phan Đình Phùng

Phân tích giá trị nhân đạo trong "Vợ chồng A Phủ" của Tô Hoài

" Vợ chồng A phủ là một trong những thành công lớn nhất của nhà văn Tô Hoài--là truyện ngắn rút ra từ tập" truyện Tây Bắc" viết vào năm 1953." Vợ chồng A Phủ" là tác phẩm lên tiếng vì con người ca ngợi và bảo vệ con người và là một tác phẩm có giá trị nhân đạo sâu sắc
Truyện viết về cuộc đời của Mị và A phủ ở vùng núi cao Tây Bắc trước và sau khi đến với CM và niềm cảm thông sâu sắc trước số phận khốn khổ bất hạnh tủi nhụckhi bị mất quyền sống của người dân lao động miền núi dưới ách thống trị của lũ chúa đất và bọn thực dân và qua đó ca ngợi tinh thần CM của họ.
Đọc truyện ngắn ta thực sự xót xa xho Mị một cô gái Mèo đẹp nết đẹp người: cần cù đảm đang hiếu thảo giàu lòng yêu đời... chỉ vì gia đình nghèo mà Mị phải đi làm con dâu gạt nợ ở nhà thống lí Patra.Cuộc sống ở đây đã biến một cô gái hồn nhiên tràn đầy sức sống và giàu mơ ước trở thành một con người khắc khổ sống lầm lũi như " con rùa nuôi trong xó cửa" thậm chí nhiều lúc Mị cảm thấy mình không bằng một con vật:" bây giờ Mị tưởng mình cũng là con trâu mình cũng là con ngựa là con ngựa phải đổi ở cái tàu ngựa nhà này đến tàu ngựa nhà khác ngựa chỉ biết việc ăn cỏ biết đi làm mà thôi...con trâu con ngựa làm còn có lúc đêm nó còn đc đứng gãi chân đứng nhai cỏ đàn bà con gái trong cái nhà này thì vùi đầu vào làm việc cả ngày cả đêm"...

....Những ngày tết A sử đi chơi Mị còn bị trói đứng trong buồng tối>vậy mà khi vừa được chị dâu cởi trói Mị lại phải đi hái lá thuốc cho chồng nhỡ mệt thiếp đi thì lại bị A sử lấy chân đạp vào đầu. Danh nghĩa là con dâu nhà quan nhưng thực chất Mị cũng chỉ là một nô lệ làm việc không công.Mị không chỉ bị bố con A sử bóc lột về sức lao động mà còn bị chúng hủy hoại cả cuộc sông tinh thần ngăn cấm và dập tắt mọi suy nghĩ cũng như nguyện vọng dù là rất nhỏ của cô gái trẻ>Đã mấy tháng trời đêm nào Mị cũng khóc.Đã có lúc cô muốn tìm đến cái chết nhưng vì thương cha lo cho người cha già yếu không lo nổi món nợ lớn nên cô không thể chết đành quay lại cuộc đời nô lệ để trả nợ cho cha.
Bị giam hãm đầy đọa trong cái địa ngục ấy Mị đang chết dần với năm tháng Mị gần như tê liệt sức sống. Mị không còn ý thức về không gian thời gian và các mối quan hệ xã hội không hiện tại và cũng ko có cả tương lai.Ở lâu trong cái khổ Mị đã quen với cái khổ rồi.Cuộc đời của Mị chỉ thu lại qua khung cửa sổ nhỏ bằng bàn tay "mờ mờ". " trăng trắng không biết là sương hay nắng".Mị hầu như mất hết cả ý thức về bản thân và những mong muốn đổi thay cho số phận thậm chí Mị còn không có cả những ý nghĩ về cái chết nữa.
Bên cạnh nhân vật Mị là nhân vật A phủ.A phủ vốn là một thanh niên tràn đầy sức sống khỏe mạnh gan dạ lao động giỏi có lòng nhiệt huyết với công việc vậy mà chỉ vì một lần đánh nhau với A sử-con trai thống lí Patra. A phủ trở thành kẻ đi ở đợ cho nhà thống lí. Cũng như Mị những ngày sống ở nhà thống lí A phủ chịu biết bao sự đầy đọa nhục hình cả về thể xác lẫn tinh thần. Để rồi trong gian khổ hai con người này đã gặp nhau ở sự đồng cảm sâu sắc ở tình thương con người cùng cảnh ngộ.
Giá trị nhân đạo còn đc thể hiện ở chỗ nhà văn vạch trần những hành vi việc làm bạo ngược đầy bất công ngang trái của cha con nhà thống lí.Chỉ cần xem cách đối sử của A sử với Mị cũng thấy đc điều đó.Sau khi bị A phủ đánh chảy máu đầu đc Mị bóp thuốc cho A sử ko những ko cảm kích mà ngược lại khi Mị mệt quá thiếp đi A sử lại dùng chân đạp vào mặt Mị một cách tàn nhẫn...Mặt khác giá trị nhân đạo còn đc thể hiện ở sự cảm thông và thấu hiểu những tâm tư tình cảm tâm trạng của những con người khốn khổ.Để rồi qua đó tác giả phát hiện ra sức sống tiềm tàng trong họ và phẩm chất tốt đẹp của họ.Tiếng khèn tiếng sáo gọi bạn tình tha thiết bồi hồi.Với Mị tiếng sáo là tín hiệu của tình yêu hạnh phúc tự do và cô khao khát đến cháy bỏng: " ngày trước Mị thổi sao giỏi... Mị uốn chiếc lá trên môi thổi lá cũng hay như thổi sáo.Có biết bao nhiêu người mê...".Mị sống lại những kỉ niệm đẹp đẽ ngọt ngào với tiếng sáo Mị trở về với niềm vui sống trong hiện tại.Mị muốn đi chơi. Lòng ham sống của Mị trỗi dậy mạnh mẽ. Quên đi những đau đớn thể xác Mị đã "vùng bước đi". Dòng nước mắt lăn trên má Mị đã khơi dậy trong tâm hồn Mị niềm cảm thông sâu sắc khi thấy A phủ bị trói đứng. Càng thương mình Mị lại càng thưong người.Mị ko thể dửng dưng câm lặng đc nữa. Tình thương đã lấn áp cả nỗi sợ và cao hơn cả cái chết.Mị đã đi đến hành động cắt dây trói cho A phủ.Đây là quá trình tự phát nhưng nó là kết quả phát triển tất yếu của cả một quá trình sức sống ko ngừng trong con người Mị. Chính những phẩm chất tâm hồn tốt đẹp đã giúp cho Mị và A phủ có đủ sức sống và nghị lực để trỗi dậy chạy trốn khỏi HỒNG NGÀI đi tìm tự do cho chính mình.Mị và A phủ đã chạy đến PHIỀNG XA và giác ngộ CM. Từ trong tăm tối đau thương Đảng đã dẫn đường chỉ lối cho họ giúp họ tìm ra con đường mới: con đường CM
Tóm lại " vợ chồng A phủ" mang ý nghĩa tư tưởng nhân đạo sâu sắc.Nó đc tạo nên bởi niềm cảm thông sâu sắc với nỗi đau của con người sự nâng niu nét đẹp tâm hồn mà hơn cả là sự hướng tới giải phóng cho con người tiêu biểu là số phận của Mị và A phủ.

More...

Thơ: MIỀN BIỂN NHỚ.

By Phan Đình Phùng

 

alt

 

 

Miền biển nhớ

                   Tặng Thúy Trang

Một đêm rồi lại một đêm

Ta triền miên ta nhớ nhớ

Ta mơ mơ ta màng màng

Gọi vào sâu thẳm con tim.

 

Đêm nay mới thật là đêm

Ta tìm giấc ngủ dịu êm

Sóng xanh một đời vẫy gọi

Trong miền biển nhớ vô biên.

 

Một lần gặp gỡ rồi mơ

Đêm về viết những trang thơ

Cho ngày tươi xanh thắp nắng

Thanh âm nốt nhạc dịu êm.

Vi Ánh Ngọc

 

More...

Phân tích "Độc tiểu thanh ký" của Nguyễn Du.

By Phan Đình Phùng

PHÂN TÍCH "ĐỘC TIỂU THANH KÝ" CỦA NGUYỄN DU

Tây hồ hoa uyển tân thành khư
Độc điếu song tiền nhất chỉ thư.
Chi phấn hữu thần liên tử hậu
Văn chương vô mệnh lụy phần dư.

Cổ kim hận sự thiên nan vấn
Phong vận kì oan ngã tự cư
Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như.

Đọc tập Tiểu Thanh ký

Hồ Tây cảnh đẹp hoá gò hoang
Thổn thức bên song mảnh giấy tàn.
Son phấn có thần chôn vẫn hận
Văn chương không mệnh đốt cờn vương.
Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi
Cái án phong lưu khách tự mang.
Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa
Người đời ai khóc Tố Như chăng?

Vũ Tam Tập dịch

Xuất xứ

1. "Độc tiểu thanh ký" - bài thơ rút trong "Bắc hành tạp lục" tập thơ đi sứ của Nguyễn Du (năm 1813 - 1814).

2. Tiểu Thanh là một tên cô gài tài sắc ở đầu thời Minh Trung Quốc. Nàng họ Phùng lấy làm lẽ một người cũng tên là Phùng. Vợ cả ghen hành hạ nàng đau khổ chết năm 18 tuổi. Nàng có một tập thơ "Độc tiểu thanh ký" bị vợ cả đốt đi còn sót lại vài bài. Nay ở Cô Sơn (Chiết Giang) cạnh Tây Hồ còn mộ Tiểu Thanh. Nguyễn Du đã đọc phần dư cảo của "Tiểu Thanh ký" khi ông đi sứ mà viết bài thơ này.

Chủ đề

Bài thơ "Độc Tiểu Thanh ký" nói lên lòng xót thương đối với những người phụ nữ tài sắc bị dập vùi đau khổ chết trong oan ức đồng thời tác giả tự cảm thương cho thân phận mình.

Phân tích

1. Đề

Cảnh vật tang thương. Vườn hoa ở Tây Hồ đã thành gò hoang hết cả. Thương một đời dâu bể nhà thơ thương người đàn bà bạc mệnh. Nhà thơ đọc "mảnh giấy tàn" (nhất chỉ thư) đứng lặng trước cửa sổ điếu nàng Tiểu Thanh.

"Tây Hồ cảnh đẹp hoá gò hoang
Thổn thức bến song mảnh giấy tàn"

2. Thực

Nhan sắc (son phấn) và tài năng (văn chương) đều bị vùi dập. Son phấn có thần sau khi chết người ta còn xót thương tiếc nuối. Văn chương còn có số mệnh gì mà người ta còn bận lòng về những bài thơ sót lại sau khi bị đốt? Nhà thơ thương xót cho nhan sắc và tài năng của Tiểu Thanh bị hãm hại chôn vùi:

"Chi phấn hữu thần liên tử hậu
Văn chương vô mệnh lụy phần dư".

Hai câu thơ đối nhau làm nổi bật nhan sắc và tài năng bị vùi dập thể hiện tình thương của nhà thơ. Đúng là "Câu thơ còn đọng nỗi đau nhân tình" (Tố Hữu).

3. Luận

Nhà thơ suy ngẫm về "hận sự" và "kì oan" trong xã hội. Mối hận xưa nay hỏi trời mà vẫn khó. Cái oan lạ vì nết phong nhã tự mình ta lại buộc lấy mình. Ta như kẻ cùng hội cùng thuyền với kẻ mắc nỗi oan lạ vì nết phong nhã ấy. Nỗi đau thương và bế tắc dày vò nhà thơ và đó cũng là nỗi đau và bế tắc của đời người:

"Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi
Cái án phong lưu khách tự mang"
Phải hỏi trời vì hỏi người mãi mà chẳng được. Hỏi trời lại càng rất khó thế thì "hận sự" không thể nào kể xiết. Bế tắc là vô hạn! Phong lưu phong nhã là vẻ đẹp là cốt cách sang trọng sao lại là kì oan? Nguyễn Du đã từng trải qua "10 năm gió bụi" trong cảnh tha phương ốm đau không có thuốc trôi giạt lênh đênh tóc sớm bạc có lúc ông tự nhận mình thời trai trẻ cũng là kẻ có tài (tráng niên ngã diệc vi tài giả). Vì thế ông mới tự xếp mình vào "cùng hội cùng thuyền" là khách phong lưu như Tiểu Thanh nên mới mang cái oan lạ như nàng. Thật là chua chát!

4. Kết

Hai câu kết ẩn chứa bao tâm sự. Tố Như hỏi hậu thế:

"Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?"

Sau 300 năm nàng Tiểu Thanh chết đến điếu và khóc nàng. Liệu sau khi ta mất hơn300 năm người đời ai khóc tố Như? Đó là lời tự thương đầy lệ. Nhà thơ tự thấy mình cô đơn bơ vơ sầu tủi...

"Độc Tiểu Thanh ký" bài thơ mang cảm hứng nhân đạo sâu sắc. Nguyễn Du đã khóc một Đạm Tiên một Thuý Kiều.... Ông đã dành cho nàng Tiểu Thanh bao niềm thương xót. Đến Tây Hồ trên đường đi sứ cái tâm của ông lại hướng về nỗi đau khổ oan trái của một giai nhân bị dập vùi với bao "những điều trông thấy mà đau đớn lòng". Hai câu kết bài thơ phản ánh "nỗi đoạn trường" của nhà thơ để dân tộc ta "Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du”... như Tố Hữu đã nói.

More...

Thơ: VƯỜN TÌNH.

By Phan Đình Phùng

 

 

 

Vườn tình

Có một bận cô bé hỏi

Anh đã có người yêu chưa?

Tươi cười ta trả lời chưa

Cô bé bâng quơ kiều diễm.

 

Thế rồi dạo ấy mùa mưa

Sân trường tí tách từng giọt

Chung đường ô che hai đứa

Ta nhìn cô bé ngẩn ngơ.

 

Hôm ấy và đến bây giờ

Chiều nào cũng về chung lối

Vườn tình đua nở trên môi

Đường về giọt nắng xôn xao.

Vi Ánh Ngọc

More...

Đến với "Tống biệt hành" của Thâm Tâm.

By Phan Đình Phùng

 

Đến với bài thơ hay: "Tống biệt hành" của Thâm Tâm

Đưa người ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Đưa người ta chỉ đưa người ấy
Một giã gia đình một dửng dưng...

Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏ
Chí lớn chưa về bàn tay không
Thì không bao giờ nói trở lại!
Ba năm mẹ già cũng đừng mong.

Ta biết người buồn chiều hôm trước
Bây giờ mùa hạ sen nở nốt
Một chị hai chị cũng như sen
Khuyên nốt em trai dòng lệ sót (*).

Ta biết người buồn sáng hôm nay:
Trời chưa mùa thu tươi lắm thay
Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc
Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay...

Người đi? Ừ nhỉ người đi thực!
Mẹ thà coi như chiếc lá bay
Chị thà coi như là hạt bụi
Em thà coi như hơi rượu say.

Mây thu đầu núi gió lên trăng (**)
Cơn lạnh chiều nao đổ bóng thầm.
Ly khách ven trời nghe muốn khóc
Tiếng đời xô động tiếng hờn căm (***).

(1941)

"Tống biệt hành" là bài thơ nổi tiếng và được ưa thích nhất của Thâm Tâm. Có người không ngần ngại liệt nó vào một trong mười bài thơ tiền chiến hay nhất (1). Chục năm nay "Tống Biệt Hành" cũng được xếp trong tuyển chọn năm mươi bài thơ trữ tình tiêu biểu của mười thế kỷ thơ ca Việt Nam (2).

Đề tài bài thơ là một trong hằng hà sa số những cuộc ly biệt được đưa vào "Thơ Mới" thời 1930 - 1945. Nhưng có lẽ trong văn học Việt Nam trước và sau Thâm Tâm không ai viết về chia ly đầy tính bi hùng trữ tình và mãnh liệt đến như thế.

Đưa người ta không đưa qua sông.

Từ bao đời nay con sông bến nước vẫn là địa điểm của những cuộc tiễn biệt. Chẳng những vì xưa kia phương tiện giao thông chủ yếu của người dân quê là chiếc thuyền. Con sông còn như một ranh giới một vành đai bao phủ và che chở mỗi vùng làng mạc. Mỗi người khi qua sông cũng là lúc rời bỏ quê hương cùng gia đình và người thân của họ. Chẳng phải là ngẫu nhiên khi dòng sông con tàu đi vào tiềm thức mỗi người như một biểu tượng của giã biệt xa cách. Trong thơ ca cũng vậy:

Anh Khóa ơi
Em tiễn anh xuống tận bến tàu...
("Anh Khóa" Trần Tuấn Khải)

Biệt ly
Sóng trên dòng sông
Ôi còi tàu như xé đôi lòng
Và mây trôi nước trôi ngày tháng trôi
Càng lướt trôi.
("Biệt ly" Dzoãn Mẫn)

Nhưng lần này tác giả không đưa bạn mình qua sông. Vào những năm cuối của thập kỷ ba mươi khi Nguyễn Bính viết "Những bóng người trên sân ga" nhiều cuộc đi xa đã khởi đầu trên một bến xe một sân ga nào đó.

Tuy thế hình ảnh con đò bến nước trong văn chương và cuộc đời đã hằn sâu trong tác giả tự bao giờ khiến anh phải thốt lên:

Sao có tiếng sóng ở trong lòng?

Hỏi đấy nhưng chỉ để bộc lộ nỗi lòng buồn bã pha chút vị ngây ngất của anh. Tiếng sóng ấy chưa đến độ như "tiếng đời xô động tiếng hờn câm" ở đoạn kết nhưng đã tựa như tiếng đàn khuấy động những cung bậc bi phẫn giữa người đi và kẻ ở.

Đã hay rằng "người" buồn đấy còn "cảnh" ra sao? Buổi chiều ấy dù "không thắm không vàng vọt" nhưng "đầy hoàng hôn trong mắt trong" và có thể rất đẹp đấy. Nhưng nó vẫn đượm vẻ gì man mác vô định. Có điều vào lúc ấy nào ai còn để ý đến cảnh vật bên ngoài. Họ mải "giã gia đình" và "dửng dưng". Đối với tác giả chỉ còn người đi là tồn tại anh chỉ "đưa người ấy" ngoài ra mọi thứ khác nào có nghĩa gì.

Cuối cùng thì giờ phút chia tay cũng phải đến. Người đi hùng dũng lắm hăng hái và hăm hở lắm:

Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏ
Chí lớn chưa về bàn tay không
Thì không bao giờ nói trở lại!

Anh thề thốt thật ghê! Người đọc không biết anh đi đâu anh làm gì. Chắc sự nghiệp của anh lớn lắm. Có gì làm ta nhớ lại chàng Kinh Kha vào Tần qua sông Dịch lạnh tê tái khảng khái làm hớp rượu rồi bước thẳng không quay đầu lại:

Phong tiêu tiêu hề Dịch thủy hàn
Tráng sĩ nhất khứ hề bất phục hoàn.
(Gió hiu hiu chừ sông Dịch lạnh ghê
Tráng sĩ một đi chừ không bao giờ về.)

Ta thấy anh đi khí thế thật đấy nhưng sao cô đơn quá! Đi thì cứ đi nhưng nào có rõ tương lai:

Ba năm mẹ già cũng đừng mong.

Anh lên gân vậy thôi chứ thực ra anh thương mẹ lắm. Và khi đi nào phải anh không day dứt. Anh còn chị còn em. Những người chị "như sen" và người em "ngây thơ đôi mắt biếc" đâu muốn anh đi. Hẳn nhà anh nheo nhóc và cực nhọc lắm anh đi rồi ai lo?

Tất nhiên chí trai bốc đồng anh tỏ ra quyết tâm lắm. Nhưng dễ thấy đó chỉ là vẻ bề ngoài. Kỳ thực lòng anh thật mềm yếu. Anh đã buồn chắc là từ lâu chứ đâu phải chỉ từ "chiều hôm trước" với "sáng hôm nay".

Và cảnh sắc bầu trời mùa hạ sang thu ấy thật đẹp. Anh nhất quyết phải từ giã gia đình bạn bè trong khung cảnh ấy sao? Đích của anh nào có chắc chắn gì? Đâu phải anh không có những day dứt ràng buộc bịn rịn?

Nhưng rồi anh vẫn dứt áo ra đi. Đi lúc nào mà người tiễn chẳng hay:

Người đi! Ừ nhỉ? Người đi thực!

Như một cơn mơ lúc bừng tỉnh chẳng còn gì. Anh đã đi đi thực. Làm người ở lại đắm trong nỗi thẫn thờ. Cuộc đời sao như tỉnh như mơ! Đành phải chịu!

Tất cả dẫn đến một cao trào. Nhịp thơ trở nên gấp gáp rắn rỏi mãnh liệt nhưng đượm vẻ chua chát và bi phẫn:

Mẹ thà coi như chiếc lá bay
Chị thà coi như là hạtbụi
Em thà coi như hơi rượu say.

Anh muốn quên lãng đi mọi thứ. Quên đi cho hết nỗi sầu. Như người lữ khách trong "Chiều" của Hồ Dzếnh. Nhưng thử hỏi: có quên được không?

Mây thu đầu núi gió lên trăng
Cơn lạnh chiều nao đổ bóng thầm.

Thời gian qua đi. Bóng hoàng hôn không còn nữa. Cơn lạnh và bóng tối trùm lên mỗi bước anh đi. Lúc ấy người lữ khách còn lại một mình. Âm thầm. Lặng lẽ. Cái đích vẫn xa vời. Và nhuệ khí xưa đâu còn nữa. Anh muốn bật khóc muốn gào lên tức tưởi:

Ly khách ven trời nghe muốn khóc
Tiếng đời xô động tiếng hờn câm...

Chẳng biết lúc ấy anh trách ai? Trách mình hay trách cuộc đời cay nghiệt?

*

Ông Hoài Thanh trong "Vài suy nghĩ về thơ" (3) đã thú nhận khi viết "Thi nhân Việt Nam" ông rất khoái "Tống Biệt Hành". Chẳng những vì "điệu thơ gấp gáp. Lời thơ gắt. Câu thơ rắn rỏi gân guốc. Không mềm mại uyển chuyển như phần nhiều thơ bây giờ" (4) mà chủ yếu bài thơ mang phong vị "bâng khuâng khó hiểu của thời đại". (5)

Không rõ "Tống Biệt Hành" có gì "khó hiểu"? Nhưng rõ ràng khi đọc tôi thấy thật "bâng khuâng". Vẻ trầm hùng cổ kính của bài thơ cùng những hình ảnh "mong manh ghê rợn như những nhát dao xiết vào tâm hồn tưởng là rất nhẹ hóa ra lại rất nặng" (6) gây nên một ấn tượng thật mạnh và sâu đến người đọc.

Ít năm trước đây nhà thơ Lương Trúc (7) một người bạn của Thâm Tâm có tiết lộ rằng "Tống Biệt Hành" là bài thơ Thâm Tâm viết tặng ông khi ông đi hoạt động. Tạm cho là như vậy. Ở vào hoàn cảnh bấy giờ (1941) hành động cách mạng của những thanh niên độ tuổi hai mươi như họ có thể coi là một sự dấn thân đầy mạo hiểm. Nó mang hình ảnh các tráng sĩ thời xưa vào cuộc chiến "lạnh lùng theo trống dồn" ("Chiến sĩ vô danh" Phạm Duy) với lòng hăng hái thiêng liêng "chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh" ("Tây Tiến" Quang Dũng). Và cũng chẳng khác gì mấy hình ảnh thật đẹp và oai hùng của lứa văn nghệ sĩ đầu tham gia kháng chiến nửa thập kỷ về sau:

Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội
Những phố dài xao xác hơi may
Người ra đi đầu không ngoảnh lại
Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy.
("Đất nước" Nguyễn Đình Thi)

... Nhớ đêm ra đi đất trời bốc lửa
Cả đô thành nghi ngút cháy sau lưng
Những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng
Hồn mười phương phất phơ cờ đỏ thắm
Rách tả tơi rồi đôi giày vạn dặm
Bụi trường chinh phai bạc áo hào hoa
Mái đầu xanh hẹn mãi tới khi già
Phơi nắng gió và hoa ngàn cỏ dại
Theo tiếng gọi của những người Hà Nội
Trở về
Trở về chiếm lại quê hương!
("Ngày về" Chính Hữu)

*

Cuộc đời Thâm Tâm thật ngắn ngủi. Ông viết chưa nhiều (8). Cái chết cướp ông đi ở tuổi 33. Ông đã lao vào cuộc chiến đấu của dân tộc một cách nhiệt thành. Từng là biên tập viên tạp chí "Tiên phong" (1945-1946) rồi thư ký tòa soạn báo "Vệ quốc quân" ở Chiến dịch Biên giới (1950) Thâm Tâm bị sốt rét nặng trong lúc không có thuốc men. Vô phương cứu chữa ông bị bỏ lại trong một căn nhà sàn tại bản Nà Po cùng một người liên lạc. Anh này là người duy nhất có mặt khi ông qua đời và xin được bà con dân bản một mảnh vải trắng để làm khăn tang (8).

Cái chết của Thâm Tâm thật bi thảm. Nhưng nó cũng thật đẹp và bi hùng ở khía cạnh một tráng sĩ nơi sa trường. Đẹp và bi hùng như "Tống Biệt Hành" của ông vậy!

H. Linh

Chú thích:
(*) Có bản chép là "dòng lệ xót".
(**) Có bản chép là "giá lên trăng".
(***) Khổ cuối bài thơ thường không được biết đến. Theo "Văn hóa Việt Nam tổng hợp 1989-95" (Hà Nội 1989) trong một bản in "Tiểu thuyết thứ Bảy" (1940) có đoạn này.


More...

Màu sắc Đường thi trong "Tống biệt hành" của Thâm Tâm.

By Phan Đình Phùng

 

Màu sắc Đường thi trong bài thơ "Tống biệt hành" của Thâm Tâm

Viết về đề tài rất quen thuộc và có nhiều bài thơ nổi tiếng nhưng vẫn tạo được cho thi phẩm của mình một màu sắc độc đáo hấp dẫn thì không thể không nói đến nhà thơ Thâm Tâm với bài thơ Tống biệt hành. Đã có rất nhiều người khám phá vẻ đẹp lung linh muôn sắc màu của tác phẩm này. Xin góp thêm cảm nhận về Tống biệt hành nhìn từ góc độ cấu tứ mang màu sắc Đường thi trong việc thể hiện tâm trạng tinh thần của đấng nam nhi thời đại mới thông qua cuộc tiễn đưa.
Một trong những đặc điểm của cấu tứ thơ Đường là các nhà thơ không bao giờ nói trực tiếp và nói hết ý mình mà chỉ dựng lên các mối quan hệ để độc giả luận ra ý tác giả.
Thâm Tâm đã kế thừa cấu tứ thơ Đường làm cho bài thơ đậm đà phong vị Đường thi nhưng lại ngời sáng tinh thần thời đại. Trước hết tác giả tạo dựng mối quan hệ KHÔNG – CÓ ở bốn câu thơ mở đầu bài thơ để thể hiện tình người trong cuộc chia ly tiễn biệt: không có sông nhưng có tiếng sóng ở trong lòng không có bóng chiều nhưng có hoàng hôn trong mắt. Những hình ảnh đối lập đó đã diễn tả nỗi buồn tê tái của người đưa tiễn ẩn chứa đằng sau đó là tâm trạng của người ra đi. Thâm Tâm đã tạo ra sự hiện diện của những cái không có bằng hàng loạt từ phủ định ("không đưa qua sông" "bóng chiều không thắm không vàng vọt") nhưng liền sau đó lại đưa ra những câu hỏi tu từ.
Đưa người ta không đưa qua sông
Sao nghe tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Chính điều đó lại gợi cái có trong liên tưởng người đọc về hình ảnh "dòng sông" "hoàng hôn" đã trờ thành biểu tượng cho những cuộc chia ly. Trong thơ Đường dường như cuộc tiễn đưa nào cũng không thể thiếu những hình ảnh đó:

Sổ thanh phong địch ly đình vãn
Quân hướng Tiêu Tương ngã hướng Tần.
(Trịnh Cốc – Hoài thượng biệt hữu nhân)
(Vài tiếng sáo theo gió vi vút ở đình ly biệt buổi chiều hôm
Anh đi tới vùng sông Tiêu sông Tương tôi đi tới đất Tần)

Thỉnh quân thi vấn đông lưu thuỷ
Biệt ý dữ chi thuỷ đoản trường.
(Lý Bạch)
(Xin bạn thử dòng nước chảy về đông
Xem tình ý biệt ly và dòng nước bên nào ngắn bên nào dài)

Li tâm bất dị Tây giang thuỷ
(Hứa Hồn)
(Tình li biệt chẳng khác gì dòng nước sông)

Các nhà thơ cổ điển lúc viết thơ "Tống biệt" hay dùng thủ pháp đồng nhất tình cảm và cảnh còn Thâm Tâm có cách thể hiện riêng: không tả cảnh nhưng lại gợi cảnh. Cái tài của tác giả là tạo nên sự liên tưởng sự cộng hưởng nối liền cuộc chia ly hiện tại với cảnh cũ người xưa trong lòng độc giả. Chính vì vậy nhà thơ đã thành công khi thể hiện tình cảm muôn thuở của con người: "Bi mạc bi hề sinh biệt ly" (Không gì buồn bằng nỗi buồn chia ly) (Khuất Nguyên). Có lẽ Thâm Tâm đã gặp gỡ Huy Cận trong cách thể hiện này. Khi tác giả Tràng giang viết "Lòng quê dợn dợn vời con nước / Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà" đâu có ý phủ nhận "khói" để khẳng định nỗi nhớ nhà của mình da diết và thường trực hơn Thôi Hiệu:

Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai?
(Thôi Hiệu – Hoàng Hạc lâu)

Ngược lại Huy Cận đã diễn tả nỗi nhớ quê hương da diết bằng cách cộng thêm nỗi buồn của người xưa.

Thâm Tâm phát hiện những nét đối lập mà thống nhất để tạo dựng hàng loạt mối quan hệ: bề ngoài – bên trong; con người giả - con người thực; dửng dưng lạnh lùng - buồn bã dằn vặt… để khắc hoạ tâm trạng ý chí khát vọng của li khách thông qua cảm nhận của người đưa tiễn.
Người ra đi (li khách) là con người khác thường bề ngoài có vẻ dửng dưng với tất cả vượt lên mọi trở lực riêng tư để thực hiện chí lớn.

Đưa người ta chỉ đưa người ấy
Một giã gia đình một dửng dưng…

- Li khách! Li khách! Con đường nhỏ
Chí nhớn chưa về bàn tay không
Thì không bao giờ nói trở lại!
Ba năm mẹ già cũng đừng mong.

Các từ ngữ "một" "giã" "không bao giờ" "đừng" cực tả cái rắn rỏi dứt khoát tưởng chừng không ai có thể ngăn cản quyết tâm của người ra đi. Người ấy ra đi có vẻ như là không hề vướng bận với một chút tình riêng:

Mẹ thà coi như chiếc là bay
Chi thà coi như là hạt bụi
Em thà coi như hơi rượu say.

Dáng vẻ cương quyết của li khách chúng ta đã từng bắt gặp ở tráng sĩ Kinh Kha ở "Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt" trong Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn. Nhưng đến khổ thơ thứ ba qua sự hồi tưởng của người tiễn thì con người thật bị che đậy ở trên đã được bộc lộ.

Ta biết người buồn chiều hôm trước:
(…)
Ta biết người buồn sáng hôm nay:

"Ta biết" chứ không phải "ta thấy" tức là người ở lại hiểu được nỗi niềm sâu thẳm trong cõi lòng người ra đi. Nếu như "nước mắt như mưa" giúp ta nhận biết về con người thật ẩn chứa sau dáng vẻ bề ngoài oai nghiêm hùng dũng của lính thú đời xưa thì ở bài thơ này ta nhận được con người thật li khách qua sự đồng cảm của người ở lại. Đằng sau cốt cách rắn rỏi dửng dưng của đấng nam nhi ý thức được "Làm trai đứng ở trong trời đất / Phải có danh gì với núi sông" là cả chiều sâu nội tâm. Đó là những nỗi buồn day dứt dằn vặt xót xa của li khách trước tình cảm gia đình thiêng liêng. Ngay sau giọng thơ có vẻ dứt khoát rắn rỏi và sự lặp đi lặp lại ba chữ "thà coi như" ở ba câu cuối bài thơ là sự xót xa nghen ngào thầm lặng. Có một sự giằng xé nội tâm trong con người này: một bên là tình cảm một bên là ý chí khát vọng. Thâm Tâm đã xây dựng hình tượng nghệ thuật tương phản nhưng nhằm tô đậm sự thống nhất trong hành động ý chí của li khách. Tạo dựng nên các mối quan hệ nhà thơ dần dần hé mở cho người đọc nhận ra cái có ẩn chứa trong cái không cái thực ẩn chứa trong cái hư và cuối cùng là hình ảnh một con người mang dáng dấp trượng phu được nhiều người ngưỡng mộ.

Thủ pháp gợi - một thủ pháp quen thuộc trong Đường thi đã được nhà thơ vận dụng để thể hiện khát vọng thực hiện chí lớn của li khách. Khi Thâm Tâm cực tả tình cảm tiếc thương níu kéo của người thân chính là để cực tả ý chí không gì lay chuyển nổi của người ra đi. Tác giả còn tạo ra mối quan hệ tin – không tin để tô đậm thêm ý này. Người ở lại in đây là cuộc đưa tiễn thật nên mới có "sóng ở trong lòng" "hooàng hôn trong mắt" thế mà khi li khách đi rồi vẫn không tin là có thật: "Người đi? Ừ nhỉ người đi thực!" . Câu thơ diễn tả sự bàng hoàng ngỡ ngàng của người tiễn vì anh ta cứ tưởng là tình cảm của người thân có thể níu kéo li khách ở lại được. Làm sao có thể đành lòng trước cảnh mẹ già cảnh chị gái "Khuyên nốt em trai dòng lệ sót" cảnh em gái "Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay" ?... Điều đó cũng chỉ nhằm khắc hoạ thêm quyết tâm thực hiện một cuộc ra đi tự nguyện đầy lãng mạn với những khát vọng cao cả của li khách.

Kế thừa nhưng không lặp lại Thâm Tâm đã tạo nên sức sống diệu kỳ cho Tống biệt hành. Đặc biệt sự kế thừa sáng tạo trong cấu tứ thơ Đường giúp cho tác giả thể hiện sâu sắc một cái nhìn đa chiều về "vẻ đẹp con người cao cả trong toàn bộ sự biểu hiện chân thật của nhân tính đầy tinh thần nhân đạo" (Trần Đình Sử)


Thạc sĩ Hồ Thuý Ngọc GV. Khoa xã hội nhân văn - CĐSP Hà Tĩnh

Nguồn: Tạp chí Văn học và Tuổi trẻ

__________________

More...