Chân dung người lính lái xe trong "Tiểu đội xe không kính" của Phạm Tiến Duật.

By Phan Đình Phùng

 

Đề bài: Cảm nhận của em về chân dung người lính lái xe trong “ Bài thơ tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật

Bài làm:

Phạm Tiến Duật là nhà thơ nổi lên từ phong trào chống Mỹ cứu nước. Năm 1964 tốt nghiệp khoa Văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội I. Ông vào bộ đội và xung phong vào tuyến lửa khu Bốn.Từng là lính lái xe nên ông có những bài thơ viết rất hay về binh chủng này. “ Tiểu đội xe không kính” là một bài thơ tiêu biểu.Bài thơ là khúc hát ca ngợi những người lính lái xe đã đã vượt lên hiện thực dữ dội ác liệt của khói lửa chiến tranh thời chống Mỹ để hoàn thành nhiệm vụ.

Bài thơ đã xây dựng một hình tượng độc đáo đó là những chiếc xe nói cho đúng là cả một tiểu đội xe không có kính chắn gió chắn bụi băng băng ra trận. Mà độc đáo thật vì chỉ gặp ở Việt Nam ở những chiến sĩ lái xe quân sự thời chống Mỹ. Có thể nói “chất” độc đáo này được lên men từ chiến trường ác liệt:

“Không có kính không phải vì xe không có kính

Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi”

Nguyên nhân xe không kính là vậy. Đấy là mội hiện thực trần trụi mà tác giả không thể hư cấu.

Bên cạnh hiện thực trần trụi đấy là hình ảnh người lính lái xe hiện lên rất đẹp. Cứ tưởng với hiện thực dữ dội ác liệt trớ trêu ấy người lính lái xe phải bó tay thế nhưng vẫn nổi lên với tư thế:

“Ung dung buồng lái ta ngồi

Nhìn đất nhìn trời nhìn thẳng.”

Nghĩa là xe cứ đi. Không những ung dung mà người lính lái xe còn tỏ ra rất chủ động hiên ngang vượt lên tất cả.

Nói đến người lái xe là nói đến con mắt nói đến cái nhìn. Tô đậm cái nhìn của người lái xe chỉ trong một dòng thơ tác giả đã sử dụng 3 lần từ “nhìn” (điệp từ). Nhìn trời là để phát hiện máy bay hay pháo sáng về ban đêm. Nhìn thẳng là cái nhìn nghề nghiệp hiên ngang. Và cũng từ ca - bin không kính qua cái nhìn đã tạo nên những ấn tượng cảm giác rất sinh động cụ thể đối với người lái xe:

“Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng

Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim

Thấy sao trời và đột ngột cánh chim

Như sa như ùa vào buồng lái”

Những cảm giác này dù mang ý nghĩa tả thực hay tượng trưng đều thể hiện cái thế ung dung tinh thần vượt lên của người lái xe.

Hai khổ thơ tiếp hình ảnh người lái xe được tô đậm. Cái tài của Phạm Tiến Duật trong khổ thơ này là cứ hai câu đầu nói về hiện thực nghiệt ngã phải chấp nhận thì hai câu sau nói lên tinh thần vượt lên hoàn cảnh để chiến thắng hoàn cảnh của người lái xe trong thời gian chiến tranh ác liệt.

Xe không kính nên “bụi phun tóc trắng như người già” là lẽ đương nhiên xe không có kính nên “ướt áo mưa tuôn mưa xối như ngoài trời” là lẽ tất nhiên.

Những cụm từ “ừ thì có bụi” “ừ thì ướt áo” chứng tỏ họ không những đã ý thức được mà còn rất quen với những gian khổ đó. Chính vì thế:

“Chưa cần lửa phì phèo châm điếu thuốc

Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha”

Và cao hơn:

”Chưa cần thay lái trăm cây số nữa

Mưa ngừng gió lùa mau khô thôi.”

Đây là những câu thơ đậm chất người lính nói rất đúng tinh thần và cuộc sống của người lính Các động tác “phì phèo châm điếu thuốc” tuy có vụng về nhưng sao đáng yêu thế?. Cái cười “ha ha” nở ra trên khuôn mặt lấm lem của mọi người sao mà rạng ngời đến thế? Bởi vậy đọc những câu thơ này giúp ta hiểu được phần nào cuộc sống của người lính ngoài chiến trường những năm tháng đánh Mỹ. Đó là cuộc sống gian khổ trong bom đạn ác liệt nhưng tràn đầy tinh thần lạc quan yêu đời và tinh thần hoàn thành nhiệm vụ cao.

Hai khổ thơ tiếp nói về cảnh sinh hoạt và sự họp mặt sau những chuyến vận tải trên những chặng “đường đi tới”. Vẫn những câu thơ có giọng điệu riêng đậm chất văn xuôi rất riêng của Phạm Tiến Duật đã thể hiện được tình đồng chí đồng đội trong kháng chiến. Ở hai khổ thơ này tác giả vẫn tô đậm cái hình tượng thơ “xe không kính” nhưng lại có cách nói khác rất lính:

“Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới

Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi”

Khổ thơ cuối cùng kết thúc bài thơ tác giả muốn nói với chúng ta một điều như một điều dự báo: đâu chỉ là tiểu đội xe không kính mà tương lai còn là tiểu đội xe không đèn không mui xe ... Hiện thực của cuộc chiến tranh diễn ra còn hết sức ác liệt người lính lái xe còn phải đối mặt với bao nhiêu nghiệt ngã thử thách: “ Không có kính rồi xe không đèn không có mui thùng xe có xước” nhưng nhất định họ sẽ hoàn thành nhiệm vụ sẽ chiến thắng bởi vì phía trước họ là miến Nam thân yêu và vì họ sẵn có một nhiệt tình cách mạng một trái tim quả cảm - trái tim người lính Bác Hồ.

“ Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước

Chỉ cần trong xe có một trái tim”

Bài thơ là bức tượng đài nghệ thuật về người lính lái xe trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta.

More...

Hình tượng người lính trong "Tiểu đội xe không kính" của Phạm Tiến Duật.

By Phan Đình Phùng

 

 

Hình tượng người lính trong "Bài thơ về Tiểu đội xe không kính"

Hình ảnh những chiếc xe không kính.
Đề tài xe cộ hiếm xuất hiện trong thơ ca từ cổ chí kim. Nếu có thì đó là những chiếc xe tam mã trong thơ của us-kin một cách đầy lãng mạn. Còn với Phạm Tiến Duật lại đưa một hình ảnh thực là những chiếc xe không kính vào thơ. Với hai câu mở đầu tác giả đã giải thích nguyên nhân về việc xe không có kính " Không có kính không phải ví xe không có kính/ Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi". Hai câu thơ này có vẻ giống như văn xuôi vì từ cách đặt câu cho đến số lượng từ ngữ đều không vần. Hai câu này được viết với một giọng thản nhiên. Câu thơ thứ nhất có tới ba từ không:" Không có kính không phải vì xe không có kính" chỉ để thông báo một điều là hiện nay xe không có kính. Nguyên nhân của việc không có kính này được giải thích ngay o câu thơ thứ hai. Không có kính vì bom giật bom rung. Hai câu thơ không chỉ nhằm miêu tả một chiếc xe khác lạ mà còn diễn tả sự dữ dội của chiến tranh. Chiến tranh là bom đạn là mất mát. Các động từ mạng giật rung vỡ diễn đạt sự khốc liệt của chiến tranh theo cấp số nhân.---Xe không chi không kính mà còn không có đèn. Chắc hẳn những chiếc xe chở hàng ra chiến trường không chỉ bị bom giật bom rung bởi vậy xe không chỉ không có kình mà còn không có đèn. Cuộc kháng chiến chống Mĩ thời kì đầu của đất nước ta rất ác liệt. Từ việc hành quân đến việc chở hàng vận chuyển vũ khí đều phải tiến hành vào ban đêm. Khí thế ấy được Tô Hữu viết trong câu thơ:" Đêm đêm rầm rập như là đất rung". Chính vì thws mà việc không có đèn khiến cho việc chuyên chở bằng xe càng gian khổ hơn.--- Thế rồi bom rơi đạn lạc làm cho xe lại không có mui. Như vậy chiếc xe đã trở nên biến dạng. Xe không có kính không có đèn không có mui thế nhưng thùng xe thì chỉ bị xước bởi đơn giản những chiếc xe vận tải mà không có thùng xe thì không thể chở đựoc đạn dược lương thực ra chiến trường. Bởi vậy thùng xe chỉ đựoc miêu tả là có vết xước mà thôi. Có nhà phê bình đã bình luận đây là vết xước đáng yêu chứ không phải là thủng là không có. Có thwr nói rằng hình ảnh chiếc xe không kinh không đèn không mui không phải là hiếm trong chiến tranh nhưng không phải nhà thơ nào cũng nhận ra được va biến nó thành hình ảnh thơ độc đáo.

Hình ảnh những người lính.
So với những câu thơ viết về những chiếc xe thì số lưượng những câu thơ viết về người lính nhiều hơn nhưng hình ảnh những chiếc xe không kính đã làm nổi bật những hình ảnh của người chiến sĩ lái xe. Những chiếc xe không kinh không đèn không mui là hình ảnh để người lính bộc lộ những phẩm chất hiên ngang yêu đời tinh nghịch giàu ý chí chiến đấu. Trước hết là tinh thần hiên ngang cho thấy thái độ coi thường hiểm nguy của người lính. Trên những chiếc xe không kính không đèn không mui người lính vẫn vững tay lái:" Ung dung buồng lái ta ngồi". Không chỉ hiên ngang chấp nhận khó khăn mà người lính còn hiên ngang chấp nhận nguy hiểm. Nào là gió vào xoa mắt đắng nào là sao trời và cánh chim ùa vào buồng lái. Song những người chiến sĩ không hề run sợ mà vẫn đối mặt với những thử thách giữ vững trận địa là buồng lái. Tác giả sử dụng biện pháp đảo ngữ. Vị ngữ ung dung được đảo lên đầu câu để nhấn mạnh sự tự tin bình than của những người lính lái xe. Ngoài ra còn các điệp từ" nhìn thấy" được nhắc lại nhiều lần biểu hiện 1 nét đặc trưng của ngươif chiến sĩ thi sĩ vừa tập trung hoàn thành nhiệm vụ vừa không quên hưống tới vẻ đẹp thiên nhiên. Thiên nhiên không phải lúc nào cũng có vẻ đẹp lãng mạn: bầu trời có sao có cánh chim mà cón có sự khốc liệt của bụi của gió của mưa như là 1 sự thách thức. Không cú kính đương nhiên là có bụi có mưa có gió. Chỉ có điều cách diễn đạt của tác giả làm cho chúng ta thây thía độ ngang tàng bất chấp của người lính lái xe đó là " ừ thì" là "chưa cần". Như vậy trước khó khăn gian khổ mà người lính không 1 lời kêu ca. Lời thơ lúc này nhẹ nhõm trôi chảy nhịp nhàng giống như hình ảnh chiếc xe bon vun vút ra chiến trường. Tâm hồn sôi nổi tình đồng chí đồng đội sâu sắc được thể hiện qua những câu thơ khổ 3 5 6. Ta thấy những chiến sĩ lái xe là những chàng trai trẻ vui tính. Bom đạn không làm mất đi sự tinh nghịch. hóm hỉnh. Họ đã " phì phèo châm điếu thuốc/ Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha". Tiếng cười của những chàng trai như 1 khúc nhạn vui xua đi khó khăn gian khổ và giựo cảm giác nhẹ nhõm thanh thản. Họ hồn nhiên tếu táo nhưng ho cũng thậy đoàn kết. Càng khó khăn gian khổi họ càng gắn bó keo sơn. Không chỉ chia nhau từng điếu thuốc mà trong bom đạn nguy hiểm những người lính lái những chiếc xe không kình đã tụ hopk lại thành 1 tiểu đội. Tiếu đội này không phải là tiểu đội 1 hay tiểu đội 2 mà là tiểu đội xe không kính. Nếu trong bài thơ đồng chí những người lính thương nhau tay nắm lấy bàn tay thù những người lính trong bài thơ này bắt tay qua cửa kính vỡ rồi. 1 cái bắt tay qua cửa kính đã vỡ không chỉ là 1 chút đùa vui mà còn đủ làm ấm lòng đủ động viên nhau. Cái bắt tay giúp con người xít lại gần nhau trong nhiều cái chung: chung hoàn cảnh chung bếp lửa chung bát đũa và nhất là chung con đường nơi vô vàn thách thức hiểm nguy phía trước. Ta thấy dù trong khoảng khắc nào của cuộc hành quân những người lính cũng luôn dộng viên cháo hỏi nhau. Trên dường đi họ bắt tay nhau qua cửa kính lúc nghỉ cùng nhau châm điếu thuốc đén bữa chung bát đũa. Tất cả nhận nhau là người cùng 1 gia đình để rồi họ lại cùng nhau lên đường:" lại đi lại đi trời xanh thêm". Câu thơ này không chỉ chan chứa hy vọng về 1 tương lai tốt đẹp đang tới gần mà còn thể hiện tinh thần lạc quan của người lính. Một số biện pháp tu từ trong bài thơ như: đảo vị trí các từ trong cụm từ ( phì phèo châm điếu thuốc) hoán dụ ( Những chiến xe từ trong bom rơi/ Đã về đây họp thành tiểu đội) điệp ngữ ( lại đi lại đi) đã góp phần khảng định vẻ đẹp tâm hồn của những người lính trong cuộc kháng chiến chống Mĩ. Ngoài ra họ còn là những con người có ý chí chiến đấu để giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Cúng với những người lính những chiến xe chở hàng ra chiến trường trải qua mưa bom bão đạn không có kính rồi không có đèn rồi thùng xe có xứôc. Chỉ trong 2 câu thơi mà điệp từ không đưộc nhắc lại 3 lần 1 mặt để nhấn mạnh sự khó khăn mức độ ác liệt của chiên trường mặt khác lại khảng định quyết tâm của những người lính. Xe dù không có kính dù không có đèn thì xe vẫn bon ra chiến trường. Bom đạn quân thù có thể làm biến dạng xe nhưng không thể đè bẹp được tinh thần chiến đấu của những người lính lái xe. Xe chạy không chỉ vì có 1 động cơ máy móc mà còn có 1 động cơ tinh thần " vì miên Nam phía trước". Đối lập với tất cả những cái không có ở trên là 1 cái có dó là trài tim. là sức manhj tinh thần đã giuúp người lính chiến thắng bom đạn kẻ thù. Trái tim ấy đã thay thế cho tất cả những thiếu thốn: không kính không đèn không mui để tiến lên phía trưốc cho miền Nam thân yêu. Hầu như trong tất cả những bài thơ đều có 1 từ quan trọng neu lên chủ đề bài thơ gọi là nhãn tự của bài thơ. Trong bài thơ này từ trái tim cũng được coi là nhãn tự của bài thơ. Tử này hội tụ vẻ đẹp sức mạnh của người lính. Như vậy trái tim người lính là sức mạnh tinh thân tỏa sáng rực rỡ cho người lính thêm sức mạnh để hướng tới miền Nam.

(Sưu tầm)

More...

Phân tích bài "Từ ấy" của Tố Hữu.

By Phan Đình Phùng

PHÂN TÍCH BÀI "TỪ ẤY" CỦA TỐ HỮU

Trong lịch sử văn học cách mạng nước nhà thật hiếm thấy nhà thơ nào lại có những tác phẩm mang đậm dấu ấn đặc trưng của mỗi giai đoạn lịch sử và đã đi vào lòng người như thơ Tố Hữu trong thế kỷ 20. Tình yêu quê hương đất nước thiết tha sâu nặng đã hóa thân vào những vần thơ trữ tình chính trị đạt tới đỉnh cao về nghệ thuật thơ ca cách mạng
       Đọc những vần thơ những bài thơ của Tố Hữu chúng ta như cảm nhận được một tâm hồn thơ dạt dào cảm xúc một trái tim nhân hậu một tấm lòng trung trinh với Đảng với Tổ Quốc với nhân dân và tình cảm gắn bó thân thiết keo sơn với đồng bào đồng chí.
       “Dù ai thay ngựa giữa dòng
       Đời ta vẫn ngọn cờ hồng cứ đi
       Vẫn là ta đó những khi    
       Đầu voi ra trận cứu nguy giống nòi       
       Bao trùm lên toàn bộ sáng tác thơ của Tố Hữu là vì lý tưởng cách mạng vì cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc tự do và hạnh phúc cho nhân dân vì lương tâm chính nghĩa công lý và lẽ phải trên đời.. Và một trong những giá trị tiêu biểu của thơ Tố Hữu là tính hướng thiện được biểu lộ vừa thầm kín tinh tế vừa sâu sắc đậm đà qua 6 tập thơ nổi tiếng: Từ ấy Việt Bắc Ra trận Gió lộng Máu      
       Bài thơ “Từ ấy” được Tố Hữu sáng tác vào tháng 7/1938; nhan đề bài thơ trở thành tên tập thơ đầu của ông. Có thể nói “ Từ ấy” là tiếng hát của người thanh niên yêu nước Việt Nam giác ngộ lí tưởng Mác Lê Nin trong ngày hội lớn của cách mạng:       
       Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ       
       Mặt trời chân lí chói qua tim
       Hồn tôi là một vườn hoa lá       
       Rất đậm hương và rộn tiếng chim       
       “Từ ấy” là một thời điểm lịch sử đã trực tiếp tác động đến cuộc đời nhà thơ khi được giác ngộ chủ nghĩa Mác – Lênin một kỷ niệm sâu sắc của người thanh niên yêu nước bắt gặp lí tưởng Cách mạng Trong buổi ban đầu ấy những người thanh niên như Tố Hữu dù có nhiệt huyết nhưng vấn chưa tìm được đường đi trong kiếp sống nô lệ họ bị ngột thở dưới ách thống trị của thực dân phong kiến “băn khoăn đi kiếm lẽ yêu đời”.Chính trong hoàn cảnh đó lí tưởng cộng sản như nắng hạ như mặt trời xua tan đi những u ám buồn đau quét sạch mây mù và đen tối hướng đến cho thanh niên một lẽ sống cao đẹp vì một tương lai tươi sáng của dân tộc.     
       Người thanh niên học sinh Tố Hữu đã đón nhận lí tưởng ấy không chỉ bằng khối óc mà bằng cả con tim không chỉ bằng nhận thức lí trí mà xuất phát từ tình cảm:       
       Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ Mặt trời chân lí chói qua tim
       Từ ấy đã làm cho tâm hồn Tố Hữu“ bừng nắng hạ” đó là một luồng ánh sáng mạnh mẽ rực rỡ của nắng vàng chứa chan hạnh phúc ấm no.Soi tỏ vào những bài thơ sau này ta mới thấy hết được niềm vui sướng của Tố Hữu trước ánh sáng huy hoàng của chân lí.       
       Đời đen tối ta phải tìm ánh sáng
       Ta đi tới chỉ một đường cách mạng      
       Và đó mới là bản chất của lí tưởng cộng sản đã làm người thanh niên 18 tuổi ấy say mê ngây ngất trước một điều kì diệu:     
       Mặt trời chân lí chói qua tim
       Mặt trời chân lí là một hình ảnh ẩn dụ tượng trưng cho lí tưởng của Đảng của cách mạng mặt trời của chủ nghĩa xã hội. Tố Hữu với tấm lòng nhiệt thành của mình đã tự hào đón lấy ánh sáng của mặt trời sẵn sàng hành động cho lí tuởng cách mạng cao đẹp.Bởi lí tưởng đã “chói” vào tim- chính là nơi kết tụ của tình cảm là nơi kết hợp hài hòa giữa tâm lí và ý thức trí tuệ chỉ thực sự hành động đúng khi có lí tưởng cách mạng khi có ánh sáng rực rỡ của mặt trời chân lí chiếu vào.       
       Lý tưởng Cách mạng đã làm thay đổi hẳn một con người một cuộc đời. So sánh để khẳng định một sự biến đổi kì diệu mà lí tưởng Cách mạng đem lại:      
       Hồn tôi là một vườn hoa lá      
       Rất đậm hương và rộn tiếng chim.       
       Cái giọng điệu rất tỉnh và rất say rạo rực và ngọt lịm hồn ta chủ yếu là cái say người và lịm ngọt của lí tưởng của niềm hạnh phúc mà lí tưởng đem lại :“hồn” người đã trở thành “vườn hoa” một vườn xuân đẹp ngào ngạt hương sắc rộn ràng tiếng chim hót.Ở đây hiện thưc và lãng mạn đã hòa quyện vào nhau tạo nên cái gợi cảm cái sức sống cho câu thơ.       
       Nếu khổ đầu là một tiếng reo vui phấn khởi thì khổ thứ hai và thứ ba là bản quyết tâm thư của người thanh niên cộng sản nguyện hòa cái tôi nhỏ bé của mình vào cái ta chung rộng lớn của quần chúng nhân dân cần lao.Người đọc thật sự cảm động bởi thái độ chân thành thiết tha đến vồ vập của một nhà thơ vốn xuất thân từ giai cấp tiểu tư sản tự giác và quyết tâm gắn bó vớI mọi người:        
       Tôi buộc hồn tôi với mọi người       
       Để tình trang trải với trăm nơi       
       Để hồn tôi với bao hồn khổ        
       Gần gũi bên nhau thêm mạnh khối đời.       
       “Buộc” và “trang trải”là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau nhưng nó đều nằm trong nhận thức mới về lẽ sống của Tố Hữu. “Buộc” là đoàn kết gắn bó tự nguyện gắn bó đời mình với nhân dân cần lao với hết thảy nhân dân lao động Việt Nam       
       Để tình trang trải với trăm nơi                
       Xác định vị trí của mình là đứng trong hàng ngũ nhân dân lao động chưa đủ Tố Hữu còn biểu hiện một tinh thần đoàn kết tình cảm nồng thắm chan hòa với nhân dân.Tình yêu người yêu đời trong Tố Hữu đã nâng lên thành chủ nghĩa nhân đạo cộng sản.Nhà thơ muốn được như Mác: “Vì lẽ sống hy sinh cho cuộc sống - Đời với Mác là tình cao nghĩa rộng”. mong ước xây dựng một khối đời vững chắc làm nên sức mạnh quần chúng cách mạng.Từ đó Tố Hữu đã thể hiện niềm hãnh diện khi được là một thành viên ruột thịt trong đại gia đình những người nghèo khổ bất hạnh:     
       Tôi đã là con của vạn nhà       
       Là em của vạn kiếp phôi pha       
       Là anh của vạn đầu em nhỏ        
       Không áo cơm cù bấc cù bơ.                     
       Tố Hữu nguyện sẽ đứng vào hàng ngũ những người “than bụi lầy bùn”là lực lượng tiếp nối của “vạn kiếp phôi pha” là lực lượng ngày mai lớn mạnh của “vạn đầu em nhỏ” để đấu tranh cho ngày mai tươi sáng.Điệp từ “là” được nhắc đi nhắc lại nó vang lên một âm hưởng mạnh mẽ lắng đọng trong tâm hồn ta một niềm cảm phục quý mến người trai trẻ yêu đời yêu người này.       
       Với một tình cảm cá nhân đằm thắm trong sáng “Từ ấy” đã nói một cách thật tự nhiên nhuần nhụy về lí tưởng về chính trị và thật sự là tiếng hát của một thanh niên một người cộng sản chân chính luôn tuôn trào trong mình mạch nguồn của lí tưởng cách mạng.        
       Bài thơ “Từ ấy” của Tố Hữu là một bài thơ vừa có tính triết lý sâu sắc vừa rất gần gũi bình dị thân thuộc. Sau mấy chục năm đọc lại những vần thơ đó vẫn là một câu hỏi thấm thía mà những người cộng sản hôm nay không thể không suy ngẫm một cách nghiêm túc để tự mình tìm ra lời giải đáp thấu đáo. Giữa cái chung và cái riêng giữa cộng đồng - tập thể và cá nhân giữa vật chất tầm thường và tinh thần – tư tưởng của người cộng sản.      
       Cả cuộc đời Tố Hữu đã hiến dâng cho tổ quốc cho Đảng và nhân dân. Khi biết sắp phải đi xa ông cũng chỉ nghĩ là về một nơi mà ta vẫn gọi là "cõi tạm". Ông mong muốn tiếp tục được hiến dâng:      
       Tạm biệt đời ta yêu quý nhất
       Còn mấy vần thơ một nắm tro.
       Thơ gửi bạn đường. Tro bón đất
       Sống là cho. Chết cũng là cho.       
       Bởi thế con người cuộc đời sự nghiệp cách mạng và thi ca của Tố Hữu luôn sống mãi trong niềm tin yêu kính trọng của Đảng và nhân dân..

Nguồn VanHocVn.Com
//

More...

Phân tích nhân vật Mị trong tác phẩm "Vợ chồng A Phủ" của Tô Hoài.

By Phan Đình Phùng

 

Phân tích nhân vật Mị trong truyện "Vợ chồng A Phủ"


I . Mở bài

Tô Hoài là nhà văn lớn của nền văn xuôi hiện đại VN với số lượng tác phẩm đạt kỉ lục .Vợ chồng A Phủ là truyện ngắn thành công nhất trong ba truyện ngắn viết về đề tài Tây Bắc của ông .Tác phẩm có một giá trị hiện thực và nhân đạo đáng kể . Truyện viết về cuộc sống của người dân lao động vùng núi cao dưới ách thống trị tàn bạo của bọn thực dân phong kiến miền núi . Đặc biệt truyện đã xây dựng thành công nhân vật Mị qua đó ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn sức sống tiềm tàng và khả năng đến với cách mạng của nhân dân Tây Bắc .

II. Thân bài

Vợ chồng A Phủ in trong tập truyện Tây Bắc (1954). Tập truyện được tặng giải nhất- giải thưởng Hội văn nghệ Việt Nam 1954- 1955.Tác phẩm ra đời là kết quả của chuyến đi thực tế của nhà văn cùng với bộ đội giải phóng Tây Bắc năm 1952 .

Vợ chồng A Phủ mở đầu bằng cách giới thiệu nhân vật Mị ở trong cảnh tình đầy nghịc lý và cuốn hút độc giả :

“Ai ở xa về có dịp vào nhà thống lí Pá Tra thường trông thấy có một cô gái ngồi quay sợi gai bên tảng đá trước cửa cạnh tầu ngựa . Lúc nào cũng vậy dù quay sợi thái cỏ ngựa dệt vải chẻ củi hay đi cõng nước dưới khe suối lên cô ấy cũng cúi mặt mặt buồn rười rượi” .

Cách giới thiệu tạo ra những đối nghịch về một cô gái âm thầm lẻ loi âm thầm như lẫn vào các vật vô tri: cái quay sợi tảng đá tàu ngựa ; cô gái là con dâu nhà thống lí quyền thế giàu có nhưng sao mặt lúc nào “buồn rười rượi”. Khuôn mặt đó gợi ra một số phận đau khổ bất hạnh nhưng cũng ngầm ẩn một sức mạnh tiềm tàng .

Mị trước đó vốn là một người con gái đẹp . Mị có nhan sắc và có khả năng âm nhạc cô giỏi sáo và giỏi uốn chiếc lá trên môi thổi lá cũng hay như thổi sáo” . Cô còn một tâm hồn tràn đầy khát khao cuộc sống khát khao yêu đương . Quả thế Mị đã được yêu và đã khát khao yêu trái tim từng đã bao nhiêu lần hồi hộp trước trước âm thah hò hẹn của người yêu .

Nhưng người con gái tài hoa miền sơn cước đó phải chịu một cuộc đời bạc mệnh . Để cứu nạn cho cha cuối cùng cô đã chịu bán mình chịu sống cảnh làm người con dâu gạt nợ trong nhà thống lí .

Tô Hoài đã diễn tả nỗi cực nhọc về thể xác của người con gái ấy con người với danh nghĩa là con dâu nhưng thực chất chính là tôi tớ . Thân phận Mị không chỉ là thân trâu ngựa “Con trâu con ngựa làm còn có lúc đêm nó còn được đứng gãi chân đứng nhai cỏ đàn bà con gái ở cái nhà ngày thì vùi vào việc làm cả ngày lẫn đêm” .

Song nhà văn còn khắc hoạ đậm nét nỗi đau khổ về tinh thần của Mị . Một cô Mị mới hồi nào còn rạo rực yêu đương bây giờ lặng câm “lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa” . Và nhất là hình ảnh căn buồng Mị kín mít với cái cửa sổ lỗ vuông bằng bàn tay Mị ngồi trong đó trông ra lúc nào cũng thấy mờ mờ trăng trắng không biết là sương hay là nắng . Đó quả thực là một thứ địa ngục trần gian giam hãm thể xác Mị cách li tâm hồn Mị với cuộc đời cầm cố tuổi xuân và sức sống của cô . Tiếng nói tố cáo chế độ phong kiến miền núi ở đây đã được cất lên nhân danh quyền sống . Cái chế độ ấy đáng lên án bởi vì nó làm cạn khô nhựa sống làm tàn lụi đi ngọn lửa của niềm vui sống trong những con người vô cùng đáng sống .

Mị đã từng muốn chết mà không được chết vì cô vẫn còn đó món nợ của người cha . Nhưng dến lúc có thể chết đi vì cha Mị không còn nữa thì Mị lại buông trôi kéo dài mãi sự tồn taịi vật vờ . Chính lúc này cô gái còn đáng thương hơn . Bởi muốn chết nghĩa là vẫn còn muốn chống lại một cuộc sống không ra sống nghĩa là xét cho cùng còn thiết sống . Còn khi đã không thiết chết nghĩa là sự tha thiết với cuộc sống cũng không còn lúc đó thì lên núi hay đi nương thái cỏ ngựa hay cõng nước… cũng chỉ là cái xác không hồn của Mị mà thôi .

Sức sống của Mị dường như mất đi . Nhưng bên trong cái hình ảnh con rùa lầm lũi kia dang còn một con người . Khát vọng hnạh phúc có thể bị vùi lấp bị lãng quyên trong đáy sâu của một tâm hồn đã chai cứng vì đau khổ nhưng không thể bị tiêu tan . Gặp thời cơ thuận lợi thì nó lại cháy lên. Và khát vọng hạnh phúc đó đã bất chợt cháy lên thật nồng nàn và xót xa trong một đêm xuân đầy ắp tiếng gọi của tình yêu .

Bức tranh Hồng Ngài mùa xuân năm ấy có sức làm say đắm lòng người tuổi trẻ . Gió rét sắc vàng ửng của cỏ tranh sự biến đổi màu sắc kì ảo của các lòai hoa đẹp đã góp phần làm nên cuộc nổi loạn trong một tâm hồn đã bấy nhiêu năm tê dại vì đau khổ . Tác nhân quan trọng là hơi rượu . Ngày tết năm đó Mị cũng uống rượu Mị lén uống từng bát “uống ừng ực” rồi say đến lịm người đi . Cái say cùng lúc vừa gây sự lãng quên vừa đem về nỗi nhớ . Mị lãng quên thực tại (nhìn mọi người nhảy đồng người hát mà không nghe không thấy và cuộc rượu tan lúc nào cũng không hay) nhưng lại nhớ về ngày trước (ngày trước Mị thổi sáo cũng giỏi …) và quan trọng hơn là Mị vẫn nhớ mình là một con người vẫn có cái quyền sống của một con người : “Mị vẫn còn trẻ . Mị muốn đi chơi . Bao nhiêu người có chồng cũng đi chơi ngày Tết . Huống chi Mị và A Sử không có lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau” .

Nhưng tác nhân có tác dụng nhiều nhất trong việc dìu hồn Mị bềnh bồng về với những khát khao hạnh phúc yêu đương có lẽ vẫn là tiếng sáo bởi tiếng sáo là tiếng gọi của mùa xuân của tình yêu và tuổi trẻ . Tiếng sáo rập rờn trong đầu Mị nó đã trở nên tiếng lòng của người thiếu phụ .

Mị đã thức dậy với sức sống tiềm tàng và cảm thức về thân phận . Cho nên trong thời khắc âý ta mới thấy Mị đầy rẫy những mâu thuẫn . Lòng phơi phới nhưng Mị vẫn theo quán tính bước vào buồng ngồi xuống giường trông ra cái lỗ vuông mờ mờ trăng trắng . Và khi lòng ham sống trỗi dậy thì ý nghĩ đầu tiên là được chết ngay đi .

Nhưng rồi nỗi ám ảnh và sức sống mãnh liệt của tuổi xuân cứ lớn dần cho tới khi nó lấn chiếm hẳn trọn bộ tâm hồn và suy nghĩ của Mị cho tới khi Mị hoàn toàn chìm hẳn vào trong ảo giác : “Mị muốn đi chơi . Mị cũng sắp đi chơi” . Phải tới thời điểm đó Mị mới có hành động như một kẻ mộng du : quấn lại tóc với thêm cái váy hoa rồi rút thêm cái áo . Tất cả những việc đó Mị đã làm như trog một giấc mơ tuyệt nhiên không nhìn thấy A Sử bước vào không nghe thấy A Sử hỏi “.

Rồi cái gì đến đã đến . A Sử trói Mị vào cột rồi lẳng lặng khoác thêm vòng bạc đi chơi bỏ mặc Mị trong trạng thái mộng du đang chìm đắm với những giấc mơ về một thời xuân trẻ đang bồng bềnh trong cảm giác du xuân . Tâm hồn Mị đang còn sống trong thực tại ảo sợi dây trói của đời thực chưa thể làm kinh động ngay lập tức giấc mơ của kẻ mộng du . Cái cảm giác về hiện tại tàn khốc Mị chỉ cảm thấy khi vùng chân bước theo tiếng sáo mà tay chân đau không cựa được . Nhưng nếu cái mơ không đến một lần nữa thì sự tỉnh ra cũng vậy . Lại một giai đoạn chập chờn nữa giữa cái mơ và cái tỉnh giữa tiếng sáo và nỗi đau nhức của dây trói và tiếng con ngựa đạp vách nhai cỏ gãi chân . Nhưng bây giờ thì theo chiều ngược lại tỉnh dần ra đau đớn và tê dại dần đi để sáng hôm sau lại trở về với vị trí của con rùa nuôi trong câm lặng mà còn câm lặng hơn trước .

Nhưng có lẽ sức sống của Mị bùng lên mạnh mẽ nhất là lúc Mị cởi trói cho A Phủ . Cũng như Mị A Phủ là nạn nhân của chế độ độc tài phong kiến miền núi . Những va chạm mang đầy tính tự nhiên của lứa tuổi thanh niên trong những đêm tình mùa xuân đã đưa A Phủ trở thành con ở gạt nợ trong nhà thống lí . Và bản năng của một người con vốn sống gắn bó với núi rừng ham thích săn bắn đã đẩy A Phủ tới hiện thực phũ phàng : bị trói đứng . Và chính hoàn cảnh bi thương đó đã đánh thức lòng thương cảm trong con người Mị . Nhưng tình thương đó không phải tự nhiên bùng phát trong Mị mà là kết quả của một quá trình đấu tranh giằng xé trong thế giới nội tâm của cô . Mấy hôm đầu Mị vô cảm thờ ơ với hiện thực trước mắt : “A Phủ là cái xác chết đứng đó cũng thế thôi” . Câu văn như một minh chứng sự tê dại trong tâm hồn Mị . Bước ngoặt bắt đầu từ những dòng nước mắt :“Đêm ấy A Phủ khóc . Một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai lõm má đã xạm đen” . Và giọt nước mắt kia là giọt nước cuối cùng làm tràn đầy cốc nước . Nó đưa Mị từ cõi quên trở về với cõi nhớ . Mị nhớ mình đã từng bị trói đã từng đau đớn và bất lực . Mị cũng đã khóc nước mắt chảy xuống cổ xuống cằm không biết lau đi được . A Phủ nói đúng hơn là dòng nước mắt của A Phủ đã giúp Mị nhớ ra mình xót thương cho mình .

Và Mị đã nhớ lại mình biết nhận ra mình cũng từng có những đau khổ mới có thể thấy có người nào đó cũng khổ giống mình . Từ sự thương mình Mị dần dần có tình thương với A Phủ tình thương với một con người cùng cảnh ngộ . Nhưng nó còn vượt lên giới hạn thương mình : “Mình là đàn bà … chỉ còn biết đợi ngày rũ xương ở đây thôi còn người kia việc gì mà phải chết ” . Mị cởi trói cho A Phủ để rồi bất ngờ chạy theo A Phủ . Lòng ham sống của một con người như được thổi bùng lên trong Mị kết hợp với nỗi sợ hãi lo lắng cho mình. Mị như tìm lại được con người thật một con người còn đầy sức sống và khát vọng thay đổi số phận .

Nhà văn Tô Hoài đã viết về Mị với tất cả lòng yêu thương thông cảm và chỉ có lòng yêu thương thông cảm Tô Hoài mới phát hiện ra vẻ đẹp tiềm tàng trong tâm hồn những con người ham sống như Mị .

III . Kết bài

Vợ chồng A Phủ qua việc khắc hoạ sâu sắc cuộc đời số phận tính cách Mị đã tố cáo hùng hồn đanh thép những thế lực phong kiến thực dân tàn bạo áp bức bóc lột đọa đày người dân nghèo miền núi . Đồng thời nó cũng khẳng định khát vọng tự do hạnh phúc sức sống mạnh mẽ và bền bỉ của những người lao động . Đặc biệt đề cao sự đồng cảm giai cấp tình hữu ái của những người lao động nghèo khổ . Chính điều này đem lại sức sống và sự vững vàng trước thời gian của Vợ chồng A Phủ .



Nguồn: Phân tích nhân vật Mị trong truyện "Vợ chồng A Phủ" http://haihaua.foruma.biz/t511-topic#ixzz1LFTs7rQB

More...

Phân tích tác phẩm "Vợ chồng A Phủ" của Tô Hoài.

By Phan Đình Phùng

PHÂN TÍCH TÁC PHẨM "VỢ CHỒNG A PHỦ" CỦA TÔ HOÀI


I . ĐẶT VẤN ĐỀ .

Trước cách mạng tháng Tám Tô Hoài nổi tiếng với tác phẩm Dế mèn phưu lưu kí . Sau cách mạng tháng Tám và đi theo kháng chiến Tô Hoài tiếp tục khẳng định tài năng của mình bằng tập Truyện Tây Bắc . Vợ chồng A Phủ là truyện ngắn thành công nhất trong ba truyện ngắn viết về đề tài Tây Bắc . Tác phẩm có một giá trị hiện thực và nhân đạo đáng kể . Truyện viết về cuộc sống của người dân lao động vùng núi cao dưới ách thống trị tàn bạo của bọn thực dân phong kiến miền núi . Đặc biệt truyện đã ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn sức sống tiềm tàng và khả năng đến với cách mạng của họ .


II . GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ .

“Ai ở xa về có dịp vào nhà thống lí Pá Tra thường trông thấy có một cô gái ngồi quay sợi gai bên tảng đá trước cửa cạnh tầu ngựa . Lúc nào cũng vậy dù quay sợi thái cỏ ngựa dệt vải chẻ củi hay đi cõng nước dưới khe suối lên cô ấy cũng cúi mặt mặt buồn rười rượi ” .

Vợ chồng A Phủ mở đầu như thế một sự mở đầu xứng đáng với giọng kể chuyện đẹp như ru . Thế giới Tây Bắc đã được mở ra xa xăm kì diệu trên cả ý nghĩa và nhạc điệu và lời văn . Một thế giới không phải cổ tích mà như thoảng hương ca dao cổ tích một thế giới hứa hẹn rất nhiều sức gợi cảm qua một bức chân dung thiếu phụ buồn .

Mị là một người con gái đẹp một vẻ đẹp mang tính thuần nhất với vẻ đẹp trong văn chương . Mị có nhan sắc và có khả năng âm nhạc không có đàn tì bà không có nguyệt cầm thì cô giỏi sáo và giỏi “uốn chiếc lá trên môi thổi lá cũng hay như thổi sáo” . Mà tài năng âm nhạc cũng theo truyền thống thường hé mở một tâm hồn tràn đầy khát khao cuộc sống khát khao yêu đương . Quả thế Mị đã được yêu và đã khát khao yêu trái tim từng đã bao nhiêu lần hồi hộp trước trước âm thah hò hẹn của người yêu .

Nhưng người con gái tài hoa miền sơn cước đó phải chịu một cuộc đời có thể nói là bạc mệnh . Để cứu nạn cho cha cuối cùng cô đã chịu bán mình chịu sống cảnh làm người con dâu gạt nợ trong nhà thống lí .

Tô Hoài đã không quên diễn tả nỗi cực nhọc về thể xác của người con gái ấy con người với danh nghĩa là con dâu nhưng thực chất chính là tôi tớ . Thân phận Mị không chỉ là thân trâu ngựa “Con trâu con ngựa làm còn có lúc đêm nó còn được đứng gãi chân đứng nhai cỏ đàn bà con gái ở cái nhà ngày thì vùi vào việc làm cả ngày lẫn đêm” .

Song nhà văn xem ra vẫn thông cảm nhiều hơn với nỗi đau khổ về tinh thần . Chính cảm xúc về nỗi đau thinh thần ấy đã giúp ông sáng tạo ra những ngôn từ những hình ảnh khó quên : Một cô Mị mới hồi nào còn rạo rực yêu đương bây giờ lạng câm “lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa” . Và nhất là hình ảnh căn buồng Mị kín mít với cái cửa sổ lỗ vuông bằng bàn tay Mị ngồi trong đó trông ra lúc nào cũng thấy mờ mờ trăng trắng không biết là sương hay là nắng . Đó quả thực là một thứ địa ngục trần gian giam hãm thể xác Mị cách li tâm hồn Mị với cuộc đời cầm cố tuổi xuân và sức sống của cô . Rõ ràng tiếng nói tố cáo chế độ phong kiến miền núi ở đây đã được cất lên nhân danh quyền sống . Cái chế độ ấy đáng lên án bởi vì nó làm cạn khô nhựa sống làm tàn lụi đi ngọn lửa của niềm vui sống trong những con người vô cùng đáng sống .

Mị đã tùng muốn chết mà không được chết vì cô vẫn còn đó món nợ của người cha . Nhưng dến lúc có thể chết đi vì cha Mị không còn nữa thì Mị lại buông trôi kéo dài mãi sự tồn taịi vật vờ . Chính lúc này cô gái còn đáng thương hơn . Bởi muốn chết nghĩa là vẫn còn muốn chống lại một cuộc sống không ra sống nghĩa là xét cho cùng còn thiết sống . Còn khi đã không thiết chết nghĩa là sự tha thiết với cuộc sống cũng không còn lúc đó thì lên núi hay đi nương thái cỏ ngựa hay cõng nước… cũng chỉ là cái xác không hồn của Mị mà thôi .

Như vậy sức sống của Mị đã vĩnh viễn mất đi ? Không phải thế bên trong cái hình ảnh con rùa lầm lũi kia dang còn một con người . Khát vọng hnạh phúc có thể bị vùi lấp bị lãng quyên trong đáy sâu của một tâm hồn đã chai cứng vì đau khổ nhưng không thể bị tiêu tan . Gặp thời cơ thuận lợi thì nó lại cháy lên từ lớp tro tàn . Và nó cái khát vọng hạnh phúc đó đã bất chợt cháy lên thật nồng nàn và xót xa trong một đêm xuân đầy ắp tiếng gọi của tình yêu .

Có thể nói cuộc nổi loạn lần thứ nhất trong tâm hồn Mị là đoạn văn thử thách thực sự ngòi bút của Tô Hoài . Làm sao có thể cắt nghĩa được vì lí do gì mà cô Mị của ngày xưa cô Mị đầy xuân tình xuân sắc lại bỗng dưng thức dậy trong người đàn bà âm thầm chịu đựng mỏi mòn đúng vào và chỉ đúng vào cái đêm tình mùa xuân ấy ? Làm sao con người đã chôn vùi cả tuổi thanh xuân trong gian buồng kín mít chỉ có cái lỗ vuông nhỏ mờ mờ trăng trắng kia suốt từng ấy năm trời vào đúng đêm ấy lại muốn vùng lên nảy sinh ý định đi chơi xuân ? Nguyên do là bởi đất trời ? Quả thực bức tranh Hồng Ngài mùa xuân năm ấy có sức làm say đắm lòng người ngất ngây tâm hồn tuổi trẻ . Song gió rét sắc vàng ửng của cỏ tranh hay sự biến đổi màu sắc kì ảo của các lòa hoa đẹp chưa hẳn đã đủ để làm nên cuộc nổi loạn trong một tâm hồn đã bấy nhiêu năm tê dại vì đau khổ . Cần phải có những tác nhân khác nữa mạnh mẽ hơn có sức lôi cuốc Mị ra khỏi hiện tại để Mị trở về với chính mình của xa xưa : phơi phới trẻ trung yêu đời .

Tác nhân ấy theo Tô Hoài trước hết phải là hơi rượu . Ngày tết năm đó Mị cũng uống rượu Mị lén uống từng bát “uống ừng ực” rồi say đến lịm người đi . Cái say cùng lúc vừa gây sự lãng quên vừa đem về nỗi nhớ . Mị lãng quên thực tại (nhìn mọi người nhảy đồng người hát mà không nghe không thấy và cuộc rượu tan lúc nào cũng không hay) nhưng lại nhớ về ngày trước (ngày trước Mị thổi sáo cũng giỏi …) và quan trọng hơn là Mị vẫn nhớ mình là một con người vẫn có cái quyền sống của một con người : “Mị vẫn còn trẻ . Mị muốn đi chơi . Bao nhiêu người có chồng cũng đi chơi ngày Tết . Huống chi Mị và A Sử không có lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau” .

Nhưng tác nhân có tác dụng nhiều nhất trong việc dìu hồn Mị bềnh bồng về với những khát khao hạnh phúc yêu đương có lẽ vẫn là tiếng sáo bởi tiếng sáo là tiếng gọi của mùa xuân của tình yêu và tuổi trẻ . Tiếng sáo lúc đầu đã có tình cảm lắm nhưng còn vọng lại từ xa mãi từ ngoài đầu núi và Mị vẫn còn đủ tỉnh táo để để nhẩm theo lời hát . ít lâu sau tai Mị lại vẳng tiếng sáo nhưng không còn vẳng từ ngoài đầu núi xa nữa mà là tiếng sáo gọi bạ đầu làng . Rồi đến lúc tiếng sáo không chỉ là gọi bạn. Nó gọi bạn yêu . Và nó “lửng lơ bay ngoài đường” như tình ai không thể tan như lòng ai đợi chờ hờn trách . Để rồi cuối cùng tiếng sáo rập rờn trong đầu Mị nó đã trở nên tiếng lòng của người thiếu phụ .

Tô Hoài đã đặt Mị trong sự tương giao giữa một bên là sức sống tiềm tàng với một bên là cảm thức về thân phận . Cho nên trong thời khắc âý ta mới thấy Mị đầy rẫy những mâu thuẫn . Lòng phơi phới nhưng Mị vẫn theo quán tính bước vào buồng ngồi xuống giường trông ra cái lỗ vuông mờ mờ trăng trắng . Và khi lòng ham sống trỗi dậy thì ý nghĩ đầu tiên là được chết ngay đi .
Nhưng rồi nỗi ám ảnh và sức sống mãnh liệt của tuổi xuân cứ lớn dần cho tới khi nó lấn chiếm hẳn trọn bộ tâm hồn và suy nghĩ của Mị cho tới khi Mị hoàn toàn chìm hẳn vào trong ảo giác : “Mị muốn đi chơi . Mị cũng sắp đi chơi” . Phải tới thời điểm đó Mị mới có hành động như một kẻ mộng du : quấn lại tóc với thêm cái váy hoa rồi rút thêm cái áo . Tất cả những việc đó Mị đã làm như trog một giấc mơ tuyệt nhiên không nhìn thấy A Sử bước vào không nghe thấy A Sử hỏi “.

Rồi cái gì đến đã đến . A Sử trói Mị vào cột rồi lẳng lặng khoác thêm vòng bác đi chơi bỏ mặc Mị trong trạng thái mộng du đang chìm đắm với những giấc mơ về một thời xuân trẻ đang bồng bềnh trong cảm giác du xuân . Tâm hồn Mị đang còn sống trong thực tại ảo sợi dây trói của đời thực chưa thể làm kinh động ngay lập tức giấc mơ của kẻ mộng du . Cái cảm giác về hiện tại tàn khốc Mị chỉ cảm thấy khi vùng chân bước theo tiếng sáo mà tay chân đau không cựa được . Nhưng nếu cái mơ không đến một lần nữa thì sự tỉnh ra cũng vậy . Lại một giai đoạn chập chờn nữa giữa cái mơ và cái tỉnh giữa tiếng sáo và nỗi đau nhức của dây trói và tiếng con ngựa đạp vách nhai cỏ gãi chân . Nhưng bây giờ thì theo chiều ngược lại tỉnh dần ra đau đớn và tê dại dần đi để sáng hôm sau lại trở về với vị trí của con rùa nuôi trong câm lặng mà còn câm lặng hơn trước .

Nhưng có lẽ sức sống của Mị bùng lên mạnh mẽ nhất là lúc Mị cởi trói cho A Phủ . Cũng như Mị A Phủ là nạn nhân của chế độ độc tài phong kiến miền núi . Những va chạm mang đầy tính tự nhiên của lứa tuổi thanh niên trong những đêm tình mùa xuân đã đưa A Phủ trở thành con ở gạt nợ trong nhà thống lí . Và bản năng của một người con vốn sống gắn bó với núi rừng ham thích săn bắn đã đẩy A Phủ tới hiện thực phũ phàng : bị trói đứng . Và chính hoàn cảnh bi thương đó đã đánh thức lòng thương cảm trong con người Mị . Nhưng tình thương đó không phải tự nhiên bùng phát trong Mị mà là kết quả của một quá trình đấu tranh giằng xé trong thế giới nội tâm của cô . Mấy hôm đầu Mị vô cảm thờ ơ với hiện thực trước mắt : “A Phủ là cái xác chết đứng đó cũng thế thôi” . Câu văn như một minh chứng sự tê dại trong tâm hồn Mị . Bước ngoặt bắt đầu từ những dòng nước mắt :“Đêm ấy A Phủ khóc . Một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai lõm má đã xạm đen” . Và giọt nước mắt kia là giọt nước cuối cùng làm tràn đầy cốc nước . Nó đưa Mị từ cõi quên trở về với cõi nhớ . Mị nhớ mình đã từng bị trói đã từng đau đớn và bất lực . Mị cũng đã khóc nước mắt chảy xuống cổ xuống cằm không biết lau đi được . A Phủ nói đúng hơn là dòng nước mắt của A Phủ đã giúp Mị nhớ ra mình xót thương cho mình .

Và đã nhớ lại mình biết nhận ra mình cũng từng có những đau khổ mới có thể thấy có người nào đó cũng khổ giống mình . Từ sự thương mình Mị dần dần có tình thương với A Phủ tình thương với một con người cùng cảnh ngộ . Nhưng nó còn vượt lên giới hạn thương mình : “Mình là đàn bà … chỉ còn biết đợi ngày rũ xương ở đây thôi còn người kia việc gì mà phải chết ” . Mị cởi trói cho A Phủ để rồi bất ngờ chạy theo A Phủ . Lòng ham sống của một con người như được thổi bùng lên trong Mị kết hợp với nỗi sợ hãi lo lắng cho mình. Mị như tìm lại được con người thật một con người còn đầy sức sống và khát vọng thay đổi số phận .

Nhà văn Tô Hoài đã viết về Mị A Phủ với tất cả lòng yêu thương thông cảm và chỉ có lòng yêu thương thông cảm Tô Hoài mới phát hiện ra vẻ đẹp tiềm tàng trong tâm hồn những con người ham sống như Mị như A Phủ .

III .KẾT THÚC VẤN ĐỀ .

Vợ chồng A Phủ là bản cáo trạng hùng hồn đanh thép đối với những thế lực phong kiến thực dân tàn bạo áp bức bóc lột đọa đày người dân nghèo miền núi . Đồng thời nó cũng khẳng định khát vọng tự do hạnh phúc sức sống mạnh mẽ và bền bỉ của những người lao động . Đặc biệt đề cao sự đồng cảm giai cấp tình hữu ái của những người lao động nghèo khổ . Chính điều này đem lại sức sống và sự vững vàng trước thời gian của Vợ chồng A Phủ .

More...

Phân tích giá trị nhân đạo trong "Vợ chồng A Phủ" của Tô Hoài.

By Phan Đình Phùng

Phân tích giá trị nhân đạo trong "Vợ chồng A Phủ" của Tô Hoài

" Vợ chồng A phủ là một trong những thành công lớn nhất của nhà văn Tô Hoài--là truyện ngắn rút ra từ tập" truyện Tây Bắc" viết vào năm 1953." Vợ chồng A Phủ" là tác phẩm lên tiếng vì con người ca ngợi và bảo vệ con người và là một tác phẩm có giá trị nhân đạo sâu sắc
Truyện viết về cuộc đời của Mị và A phủ ở vùng núi cao Tây Bắc trước và sau khi đến với CM và niềm cảm thông sâu sắc trước số phận khốn khổ bất hạnh tủi nhụckhi bị mất quyền sống của người dân lao động miền núi dưới ách thống trị của lũ chúa đất và bọn thực dân và qua đó ca ngợi tinh thần CM của họ.
Đọc truyện ngắn ta thực sự xót xa xho Mị một cô gái Mèo đẹp nết đẹp người: cần cù đảm đang hiếu thảo giàu lòng yêu đời... chỉ vì gia đình nghèo mà Mị phải đi làm con dâu gạt nợ ở nhà thống lí Patra.Cuộc sống ở đây đã biến một cô gái hồn nhiên tràn đầy sức sống và giàu mơ ước trở thành một con người khắc khổ sống lầm lũi như " con rùa nuôi trong xó cửa" thậm chí nhiều lúc Mị cảm thấy mình không bằng một con vật:" bây giờ Mị tưởng mình cũng là con trâu mình cũng là con ngựa là con ngựa phải đổi ở cái tàu ngựa nhà này đến tàu ngựa nhà khác ngựa chỉ biết việc ăn cỏ biết đi làm mà thôi...con trâu con ngựa làm còn có lúc đêm nó còn đc đứng gãi chân đứng nhai cỏ đàn bà con gái trong cái nhà này thì vùi đầu vào làm việc cả ngày cả đêm"...

....Những ngày tết A sử đi chơi Mị còn bị trói đứng trong buồng tối>vậy mà khi vừa được chị dâu cởi trói Mị lại phải đi hái lá thuốc cho chồng nhỡ mệt thiếp đi thì lại bị A sử lấy chân đạp vào đầu. Danh nghĩa là con dâu nhà quan nhưng thực chất Mị cũng chỉ là một nô lệ làm việc không công.Mị không chỉ bị bố con A sử bóc lột về sức lao động mà còn bị chúng hủy hoại cả cuộc sông tinh thần ngăn cấm và dập tắt mọi suy nghĩ cũng như nguyện vọng dù là rất nhỏ của cô gái trẻ>Đã mấy tháng trời đêm nào Mị cũng khóc.Đã có lúc cô muốn tìm đến cái chết nhưng vì thương cha lo cho người cha già yếu không lo nổi món nợ lớn nên cô không thể chết đành quay lại cuộc đời nô lệ để trả nợ cho cha.
Bị giam hãm đầy đọa trong cái địa ngục ấy Mị đang chết dần với năm tháng Mị gần như tê liệt sức sống. Mị không còn ý thức về không gian thời gian và các mối quan hệ xã hội không hiện tại và cũng ko có cả tương lai.Ở lâu trong cái khổ Mị đã quen với cái khổ rồi.Cuộc đời của Mị chỉ thu lại qua khung cửa sổ nhỏ bằng bàn tay "mờ mờ". " trăng trắng không biết là sương hay nắng".Mị hầu như mất hết cả ý thức về bản thân và những mong muốn đổi thay cho số phận thậm chí Mị còn không có cả những ý nghĩ về cái chết nữa.
Bên cạnh nhân vật Mị là nhân vật A phủ.A phủ vốn là một thanh niên tràn đầy sức sống khỏe mạnh gan dạ lao động giỏi có lòng nhiệt huyết với công việc vậy mà chỉ vì một lần đánh nhau với A sử-con trai thống lí Patra. A phủ trở thành kẻ đi ở đợ cho nhà thống lí. Cũng như Mị những ngày sống ở nhà thống lí A phủ chịu biết bao sự đầy đọa nhục hình cả về thể xác lẫn tinh thần. Để rồi trong gian khổ hai con người này đã gặp nhau ở sự đồng cảm sâu sắc ở tình thương con người cùng cảnh ngộ.
Giá trị nhân đạo còn đc thể hiện ở chỗ nhà văn vạch trần những hành vi việc làm bạo ngược đầy bất công ngang trái của cha con nhà thống lí.Chỉ cần xem cách đối sử của A sử với Mị cũng thấy đc điều đó.Sau khi bị A phủ đánh chảy máu đầu đc Mị bóp thuốc cho A sử ko những ko cảm kích mà ngược lại khi Mị mệt quá thiếp đi A sử lại dùng chân đạp vào mặt Mị một cách tàn nhẫn...Mặt khác giá trị nhân đạo còn đc thể hiện ở sự cảm thông và thấu hiểu những tâm tư tình cảm tâm trạng của những con người khốn khổ.Để rồi qua đó tác giả phát hiện ra sức sống tiềm tàng trong họ và phẩm chất tốt đẹp của họ.Tiếng khèn tiếng sáo gọi bạn tình tha thiết bồi hồi.Với Mị tiếng sáo là tín hiệu của tình yêu hạnh phúc tự do và cô khao khát đến cháy bỏng: " ngày trước Mị thổi sao giỏi... Mị uốn chiếc lá trên môi thổi lá cũng hay như thổi sáo.Có biết bao nhiêu người mê...".Mị sống lại những kỉ niệm đẹp đẽ ngọt ngào với tiếng sáo Mị trở về với niềm vui sống trong hiện tại.Mị muốn đi chơi. Lòng ham sống của Mị trỗi dậy mạnh mẽ. Quên đi những đau đớn thể xác Mị đã "vùng bước đi". Dòng nước mắt lăn trên má Mị đã khơi dậy trong tâm hồn Mị niềm cảm thông sâu sắc khi thấy A phủ bị trói đứng. Càng thương mình Mị lại càng thưong người.Mị ko thể dửng dưng câm lặng đc nữa. Tình thương đã lấn áp cả nỗi sợ và cao hơn cả cái chết.Mị đã đi đến hành động cắt dây trói cho A phủ.Đây là quá trình tự phát nhưng nó là kết quả phát triển tất yếu của cả một quá trình sức sống ko ngừng trong con người Mị. Chính những phẩm chất tâm hồn tốt đẹp đã giúp cho Mị và A phủ có đủ sức sống và nghị lực để trỗi dậy chạy trốn khỏi HỒNG NGÀI đi tìm tự do cho chính mình.Mị và A phủ đã chạy đến PHIỀNG XA và giác ngộ CM. Từ trong tăm tối đau thương Đảng đã dẫn đường chỉ lối cho họ giúp họ tìm ra con đường mới: con đường CM
Tóm lại " vợ chồng A phủ" mang ý nghĩa tư tưởng nhân đạo sâu sắc.Nó đc tạo nên bởi niềm cảm thông sâu sắc với nỗi đau của con người sự nâng niu nét đẹp tâm hồn mà hơn cả là sự hướng tới giải phóng cho con người tiêu biểu là số phận của Mị và A phủ.

More...

Phân tích "Độc tiểu thanh ký" của Nguyễn Du.

By Phan Đình Phùng

PHÂN TÍCH "ĐỘC TIỂU THANH KÝ" CỦA NGUYỄN DU

Tây hồ hoa uyển tân thành khư
Độc điếu song tiền nhất chỉ thư.
Chi phấn hữu thần liên tử hậu
Văn chương vô mệnh lụy phần dư.

Cổ kim hận sự thiên nan vấn
Phong vận kì oan ngã tự cư
Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như.

Đọc tập Tiểu Thanh ký

Hồ Tây cảnh đẹp hoá gò hoang
Thổn thức bên song mảnh giấy tàn.
Son phấn có thần chôn vẫn hận
Văn chương không mệnh đốt cờn vương.
Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi
Cái án phong lưu khách tự mang.
Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa
Người đời ai khóc Tố Như chăng?

Vũ Tam Tập dịch

Xuất xứ

1. "Độc tiểu thanh ký" - bài thơ rút trong "Bắc hành tạp lục" tập thơ đi sứ của Nguyễn Du (năm 1813 - 1814).

2. Tiểu Thanh là một tên cô gài tài sắc ở đầu thời Minh Trung Quốc. Nàng họ Phùng lấy làm lẽ một người cũng tên là Phùng. Vợ cả ghen hành hạ nàng đau khổ chết năm 18 tuổi. Nàng có một tập thơ "Độc tiểu thanh ký" bị vợ cả đốt đi còn sót lại vài bài. Nay ở Cô Sơn (Chiết Giang) cạnh Tây Hồ còn mộ Tiểu Thanh. Nguyễn Du đã đọc phần dư cảo của "Tiểu Thanh ký" khi ông đi sứ mà viết bài thơ này.

Chủ đề

Bài thơ "Độc Tiểu Thanh ký" nói lên lòng xót thương đối với những người phụ nữ tài sắc bị dập vùi đau khổ chết trong oan ức đồng thời tác giả tự cảm thương cho thân phận mình.

Phân tích

1. Đề

Cảnh vật tang thương. Vườn hoa ở Tây Hồ đã thành gò hoang hết cả. Thương một đời dâu bể nhà thơ thương người đàn bà bạc mệnh. Nhà thơ đọc "mảnh giấy tàn" (nhất chỉ thư) đứng lặng trước cửa sổ điếu nàng Tiểu Thanh.

"Tây Hồ cảnh đẹp hoá gò hoang
Thổn thức bến song mảnh giấy tàn"

2. Thực

Nhan sắc (son phấn) và tài năng (văn chương) đều bị vùi dập. Son phấn có thần sau khi chết người ta còn xót thương tiếc nuối. Văn chương còn có số mệnh gì mà người ta còn bận lòng về những bài thơ sót lại sau khi bị đốt? Nhà thơ thương xót cho nhan sắc và tài năng của Tiểu Thanh bị hãm hại chôn vùi:

"Chi phấn hữu thần liên tử hậu
Văn chương vô mệnh lụy phần dư".

Hai câu thơ đối nhau làm nổi bật nhan sắc và tài năng bị vùi dập thể hiện tình thương của nhà thơ. Đúng là "Câu thơ còn đọng nỗi đau nhân tình" (Tố Hữu).

3. Luận

Nhà thơ suy ngẫm về "hận sự" và "kì oan" trong xã hội. Mối hận xưa nay hỏi trời mà vẫn khó. Cái oan lạ vì nết phong nhã tự mình ta lại buộc lấy mình. Ta như kẻ cùng hội cùng thuyền với kẻ mắc nỗi oan lạ vì nết phong nhã ấy. Nỗi đau thương và bế tắc dày vò nhà thơ và đó cũng là nỗi đau và bế tắc của đời người:

"Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi
Cái án phong lưu khách tự mang"
Phải hỏi trời vì hỏi người mãi mà chẳng được. Hỏi trời lại càng rất khó thế thì "hận sự" không thể nào kể xiết. Bế tắc là vô hạn! Phong lưu phong nhã là vẻ đẹp là cốt cách sang trọng sao lại là kì oan? Nguyễn Du đã từng trải qua "10 năm gió bụi" trong cảnh tha phương ốm đau không có thuốc trôi giạt lênh đênh tóc sớm bạc có lúc ông tự nhận mình thời trai trẻ cũng là kẻ có tài (tráng niên ngã diệc vi tài giả). Vì thế ông mới tự xếp mình vào "cùng hội cùng thuyền" là khách phong lưu như Tiểu Thanh nên mới mang cái oan lạ như nàng. Thật là chua chát!

4. Kết

Hai câu kết ẩn chứa bao tâm sự. Tố Như hỏi hậu thế:

"Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?"

Sau 300 năm nàng Tiểu Thanh chết đến điếu và khóc nàng. Liệu sau khi ta mất hơn300 năm người đời ai khóc tố Như? Đó là lời tự thương đầy lệ. Nhà thơ tự thấy mình cô đơn bơ vơ sầu tủi...

"Độc Tiểu Thanh ký" bài thơ mang cảm hứng nhân đạo sâu sắc. Nguyễn Du đã khóc một Đạm Tiên một Thuý Kiều.... Ông đã dành cho nàng Tiểu Thanh bao niềm thương xót. Đến Tây Hồ trên đường đi sứ cái tâm của ông lại hướng về nỗi đau khổ oan trái của một giai nhân bị dập vùi với bao "những điều trông thấy mà đau đớn lòng". Hai câu kết bài thơ phản ánh "nỗi đoạn trường" của nhà thơ để dân tộc ta "Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du”... như Tố Hữu đã nói.

More...

Đến với "Tống biệt hành" của Thâm Tâm.

By Phan Đình Phùng

 

Đến với bài thơ hay: "Tống biệt hành" của Thâm Tâm

Đưa người ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Đưa người ta chỉ đưa người ấy
Một giã gia đình một dửng dưng...

Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏ
Chí lớn chưa về bàn tay không
Thì không bao giờ nói trở lại!
Ba năm mẹ già cũng đừng mong.

Ta biết người buồn chiều hôm trước
Bây giờ mùa hạ sen nở nốt
Một chị hai chị cũng như sen
Khuyên nốt em trai dòng lệ sót (*).

Ta biết người buồn sáng hôm nay:
Trời chưa mùa thu tươi lắm thay
Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc
Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay...

Người đi? Ừ nhỉ người đi thực!
Mẹ thà coi như chiếc lá bay
Chị thà coi như là hạt bụi
Em thà coi như hơi rượu say.

Mây thu đầu núi gió lên trăng (**)
Cơn lạnh chiều nao đổ bóng thầm.
Ly khách ven trời nghe muốn khóc
Tiếng đời xô động tiếng hờn căm (***).

(1941)

"Tống biệt hành" là bài thơ nổi tiếng và được ưa thích nhất của Thâm Tâm. Có người không ngần ngại liệt nó vào một trong mười bài thơ tiền chiến hay nhất (1). Chục năm nay "Tống Biệt Hành" cũng được xếp trong tuyển chọn năm mươi bài thơ trữ tình tiêu biểu của mười thế kỷ thơ ca Việt Nam (2).

Đề tài bài thơ là một trong hằng hà sa số những cuộc ly biệt được đưa vào "Thơ Mới" thời 1930 - 1945. Nhưng có lẽ trong văn học Việt Nam trước và sau Thâm Tâm không ai viết về chia ly đầy tính bi hùng trữ tình và mãnh liệt đến như thế.

Đưa người ta không đưa qua sông.

Từ bao đời nay con sông bến nước vẫn là địa điểm của những cuộc tiễn biệt. Chẳng những vì xưa kia phương tiện giao thông chủ yếu của người dân quê là chiếc thuyền. Con sông còn như một ranh giới một vành đai bao phủ và che chở mỗi vùng làng mạc. Mỗi người khi qua sông cũng là lúc rời bỏ quê hương cùng gia đình và người thân của họ. Chẳng phải là ngẫu nhiên khi dòng sông con tàu đi vào tiềm thức mỗi người như một biểu tượng của giã biệt xa cách. Trong thơ ca cũng vậy:

Anh Khóa ơi
Em tiễn anh xuống tận bến tàu...
("Anh Khóa" Trần Tuấn Khải)

Biệt ly
Sóng trên dòng sông
Ôi còi tàu như xé đôi lòng
Và mây trôi nước trôi ngày tháng trôi
Càng lướt trôi.
("Biệt ly" Dzoãn Mẫn)

Nhưng lần này tác giả không đưa bạn mình qua sông. Vào những năm cuối của thập kỷ ba mươi khi Nguyễn Bính viết "Những bóng người trên sân ga" nhiều cuộc đi xa đã khởi đầu trên một bến xe một sân ga nào đó.

Tuy thế hình ảnh con đò bến nước trong văn chương và cuộc đời đã hằn sâu trong tác giả tự bao giờ khiến anh phải thốt lên:

Sao có tiếng sóng ở trong lòng?

Hỏi đấy nhưng chỉ để bộc lộ nỗi lòng buồn bã pha chút vị ngây ngất của anh. Tiếng sóng ấy chưa đến độ như "tiếng đời xô động tiếng hờn câm" ở đoạn kết nhưng đã tựa như tiếng đàn khuấy động những cung bậc bi phẫn giữa người đi và kẻ ở.

Đã hay rằng "người" buồn đấy còn "cảnh" ra sao? Buổi chiều ấy dù "không thắm không vàng vọt" nhưng "đầy hoàng hôn trong mắt trong" và có thể rất đẹp đấy. Nhưng nó vẫn đượm vẻ gì man mác vô định. Có điều vào lúc ấy nào ai còn để ý đến cảnh vật bên ngoài. Họ mải "giã gia đình" và "dửng dưng". Đối với tác giả chỉ còn người đi là tồn tại anh chỉ "đưa người ấy" ngoài ra mọi thứ khác nào có nghĩa gì.

Cuối cùng thì giờ phút chia tay cũng phải đến. Người đi hùng dũng lắm hăng hái và hăm hở lắm:

Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏ
Chí lớn chưa về bàn tay không
Thì không bao giờ nói trở lại!

Anh thề thốt thật ghê! Người đọc không biết anh đi đâu anh làm gì. Chắc sự nghiệp của anh lớn lắm. Có gì làm ta nhớ lại chàng Kinh Kha vào Tần qua sông Dịch lạnh tê tái khảng khái làm hớp rượu rồi bước thẳng không quay đầu lại:

Phong tiêu tiêu hề Dịch thủy hàn
Tráng sĩ nhất khứ hề bất phục hoàn.
(Gió hiu hiu chừ sông Dịch lạnh ghê
Tráng sĩ một đi chừ không bao giờ về.)

Ta thấy anh đi khí thế thật đấy nhưng sao cô đơn quá! Đi thì cứ đi nhưng nào có rõ tương lai:

Ba năm mẹ già cũng đừng mong.

Anh lên gân vậy thôi chứ thực ra anh thương mẹ lắm. Và khi đi nào phải anh không day dứt. Anh còn chị còn em. Những người chị "như sen" và người em "ngây thơ đôi mắt biếc" đâu muốn anh đi. Hẳn nhà anh nheo nhóc và cực nhọc lắm anh đi rồi ai lo?

Tất nhiên chí trai bốc đồng anh tỏ ra quyết tâm lắm. Nhưng dễ thấy đó chỉ là vẻ bề ngoài. Kỳ thực lòng anh thật mềm yếu. Anh đã buồn chắc là từ lâu chứ đâu phải chỉ từ "chiều hôm trước" với "sáng hôm nay".

Và cảnh sắc bầu trời mùa hạ sang thu ấy thật đẹp. Anh nhất quyết phải từ giã gia đình bạn bè trong khung cảnh ấy sao? Đích của anh nào có chắc chắn gì? Đâu phải anh không có những day dứt ràng buộc bịn rịn?

Nhưng rồi anh vẫn dứt áo ra đi. Đi lúc nào mà người tiễn chẳng hay:

Người đi! Ừ nhỉ? Người đi thực!

Như một cơn mơ lúc bừng tỉnh chẳng còn gì. Anh đã đi đi thực. Làm người ở lại đắm trong nỗi thẫn thờ. Cuộc đời sao như tỉnh như mơ! Đành phải chịu!

Tất cả dẫn đến một cao trào. Nhịp thơ trở nên gấp gáp rắn rỏi mãnh liệt nhưng đượm vẻ chua chát và bi phẫn:

Mẹ thà coi như chiếc lá bay
Chị thà coi như là hạtbụi
Em thà coi như hơi rượu say.

Anh muốn quên lãng đi mọi thứ. Quên đi cho hết nỗi sầu. Như người lữ khách trong "Chiều" của Hồ Dzếnh. Nhưng thử hỏi: có quên được không?

Mây thu đầu núi gió lên trăng
Cơn lạnh chiều nao đổ bóng thầm.

Thời gian qua đi. Bóng hoàng hôn không còn nữa. Cơn lạnh và bóng tối trùm lên mỗi bước anh đi. Lúc ấy người lữ khách còn lại một mình. Âm thầm. Lặng lẽ. Cái đích vẫn xa vời. Và nhuệ khí xưa đâu còn nữa. Anh muốn bật khóc muốn gào lên tức tưởi:

Ly khách ven trời nghe muốn khóc
Tiếng đời xô động tiếng hờn câm...

Chẳng biết lúc ấy anh trách ai? Trách mình hay trách cuộc đời cay nghiệt?

*

Ông Hoài Thanh trong "Vài suy nghĩ về thơ" (3) đã thú nhận khi viết "Thi nhân Việt Nam" ông rất khoái "Tống Biệt Hành". Chẳng những vì "điệu thơ gấp gáp. Lời thơ gắt. Câu thơ rắn rỏi gân guốc. Không mềm mại uyển chuyển như phần nhiều thơ bây giờ" (4) mà chủ yếu bài thơ mang phong vị "bâng khuâng khó hiểu của thời đại". (5)

Không rõ "Tống Biệt Hành" có gì "khó hiểu"? Nhưng rõ ràng khi đọc tôi thấy thật "bâng khuâng". Vẻ trầm hùng cổ kính của bài thơ cùng những hình ảnh "mong manh ghê rợn như những nhát dao xiết vào tâm hồn tưởng là rất nhẹ hóa ra lại rất nặng" (6) gây nên một ấn tượng thật mạnh và sâu đến người đọc.

Ít năm trước đây nhà thơ Lương Trúc (7) một người bạn của Thâm Tâm có tiết lộ rằng "Tống Biệt Hành" là bài thơ Thâm Tâm viết tặng ông khi ông đi hoạt động. Tạm cho là như vậy. Ở vào hoàn cảnh bấy giờ (1941) hành động cách mạng của những thanh niên độ tuổi hai mươi như họ có thể coi là một sự dấn thân đầy mạo hiểm. Nó mang hình ảnh các tráng sĩ thời xưa vào cuộc chiến "lạnh lùng theo trống dồn" ("Chiến sĩ vô danh" Phạm Duy) với lòng hăng hái thiêng liêng "chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh" ("Tây Tiến" Quang Dũng). Và cũng chẳng khác gì mấy hình ảnh thật đẹp và oai hùng của lứa văn nghệ sĩ đầu tham gia kháng chiến nửa thập kỷ về sau:

Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội
Những phố dài xao xác hơi may
Người ra đi đầu không ngoảnh lại
Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy.
("Đất nước" Nguyễn Đình Thi)

... Nhớ đêm ra đi đất trời bốc lửa
Cả đô thành nghi ngút cháy sau lưng
Những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng
Hồn mười phương phất phơ cờ đỏ thắm
Rách tả tơi rồi đôi giày vạn dặm
Bụi trường chinh phai bạc áo hào hoa
Mái đầu xanh hẹn mãi tới khi già
Phơi nắng gió và hoa ngàn cỏ dại
Theo tiếng gọi của những người Hà Nội
Trở về
Trở về chiếm lại quê hương!
("Ngày về" Chính Hữu)

*

Cuộc đời Thâm Tâm thật ngắn ngủi. Ông viết chưa nhiều (8). Cái chết cướp ông đi ở tuổi 33. Ông đã lao vào cuộc chiến đấu của dân tộc một cách nhiệt thành. Từng là biên tập viên tạp chí "Tiên phong" (1945-1946) rồi thư ký tòa soạn báo "Vệ quốc quân" ở Chiến dịch Biên giới (1950) Thâm Tâm bị sốt rét nặng trong lúc không có thuốc men. Vô phương cứu chữa ông bị bỏ lại trong một căn nhà sàn tại bản Nà Po cùng một người liên lạc. Anh này là người duy nhất có mặt khi ông qua đời và xin được bà con dân bản một mảnh vải trắng để làm khăn tang (8).

Cái chết của Thâm Tâm thật bi thảm. Nhưng nó cũng thật đẹp và bi hùng ở khía cạnh một tráng sĩ nơi sa trường. Đẹp và bi hùng như "Tống Biệt Hành" của ông vậy!

H. Linh

Chú thích:
(*) Có bản chép là "dòng lệ xót".
(**) Có bản chép là "giá lên trăng".
(***) Khổ cuối bài thơ thường không được biết đến. Theo "Văn hóa Việt Nam tổng hợp 1989-95" (Hà Nội 1989) trong một bản in "Tiểu thuyết thứ Bảy" (1940) có đoạn này.


More...

Màu sắc Đường thi trong "Tống biệt hành" của Thâm Tâm.

By Phan Đình Phùng

 

Màu sắc Đường thi trong bài thơ "Tống biệt hành" của Thâm Tâm

Viết về đề tài rất quen thuộc và có nhiều bài thơ nổi tiếng nhưng vẫn tạo được cho thi phẩm của mình một màu sắc độc đáo hấp dẫn thì không thể không nói đến nhà thơ Thâm Tâm với bài thơ Tống biệt hành. Đã có rất nhiều người khám phá vẻ đẹp lung linh muôn sắc màu của tác phẩm này. Xin góp thêm cảm nhận về Tống biệt hành nhìn từ góc độ cấu tứ mang màu sắc Đường thi trong việc thể hiện tâm trạng tinh thần của đấng nam nhi thời đại mới thông qua cuộc tiễn đưa.
Một trong những đặc điểm của cấu tứ thơ Đường là các nhà thơ không bao giờ nói trực tiếp và nói hết ý mình mà chỉ dựng lên các mối quan hệ để độc giả luận ra ý tác giả.
Thâm Tâm đã kế thừa cấu tứ thơ Đường làm cho bài thơ đậm đà phong vị Đường thi nhưng lại ngời sáng tinh thần thời đại. Trước hết tác giả tạo dựng mối quan hệ KHÔNG – CÓ ở bốn câu thơ mở đầu bài thơ để thể hiện tình người trong cuộc chia ly tiễn biệt: không có sông nhưng có tiếng sóng ở trong lòng không có bóng chiều nhưng có hoàng hôn trong mắt. Những hình ảnh đối lập đó đã diễn tả nỗi buồn tê tái của người đưa tiễn ẩn chứa đằng sau đó là tâm trạng của người ra đi. Thâm Tâm đã tạo ra sự hiện diện của những cái không có bằng hàng loạt từ phủ định ("không đưa qua sông" "bóng chiều không thắm không vàng vọt") nhưng liền sau đó lại đưa ra những câu hỏi tu từ.
Đưa người ta không đưa qua sông
Sao nghe tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Chính điều đó lại gợi cái có trong liên tưởng người đọc về hình ảnh "dòng sông" "hoàng hôn" đã trờ thành biểu tượng cho những cuộc chia ly. Trong thơ Đường dường như cuộc tiễn đưa nào cũng không thể thiếu những hình ảnh đó:

Sổ thanh phong địch ly đình vãn
Quân hướng Tiêu Tương ngã hướng Tần.
(Trịnh Cốc – Hoài thượng biệt hữu nhân)
(Vài tiếng sáo theo gió vi vút ở đình ly biệt buổi chiều hôm
Anh đi tới vùng sông Tiêu sông Tương tôi đi tới đất Tần)

Thỉnh quân thi vấn đông lưu thuỷ
Biệt ý dữ chi thuỷ đoản trường.
(Lý Bạch)
(Xin bạn thử dòng nước chảy về đông
Xem tình ý biệt ly và dòng nước bên nào ngắn bên nào dài)

Li tâm bất dị Tây giang thuỷ
(Hứa Hồn)
(Tình li biệt chẳng khác gì dòng nước sông)

Các nhà thơ cổ điển lúc viết thơ "Tống biệt" hay dùng thủ pháp đồng nhất tình cảm và cảnh còn Thâm Tâm có cách thể hiện riêng: không tả cảnh nhưng lại gợi cảnh. Cái tài của tác giả là tạo nên sự liên tưởng sự cộng hưởng nối liền cuộc chia ly hiện tại với cảnh cũ người xưa trong lòng độc giả. Chính vì vậy nhà thơ đã thành công khi thể hiện tình cảm muôn thuở của con người: "Bi mạc bi hề sinh biệt ly" (Không gì buồn bằng nỗi buồn chia ly) (Khuất Nguyên). Có lẽ Thâm Tâm đã gặp gỡ Huy Cận trong cách thể hiện này. Khi tác giả Tràng giang viết "Lòng quê dợn dợn vời con nước / Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà" đâu có ý phủ nhận "khói" để khẳng định nỗi nhớ nhà của mình da diết và thường trực hơn Thôi Hiệu:

Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai?
(Thôi Hiệu – Hoàng Hạc lâu)

Ngược lại Huy Cận đã diễn tả nỗi nhớ quê hương da diết bằng cách cộng thêm nỗi buồn của người xưa.

Thâm Tâm phát hiện những nét đối lập mà thống nhất để tạo dựng hàng loạt mối quan hệ: bề ngoài – bên trong; con người giả - con người thực; dửng dưng lạnh lùng - buồn bã dằn vặt… để khắc hoạ tâm trạng ý chí khát vọng của li khách thông qua cảm nhận của người đưa tiễn.
Người ra đi (li khách) là con người khác thường bề ngoài có vẻ dửng dưng với tất cả vượt lên mọi trở lực riêng tư để thực hiện chí lớn.

Đưa người ta chỉ đưa người ấy
Một giã gia đình một dửng dưng…

- Li khách! Li khách! Con đường nhỏ
Chí nhớn chưa về bàn tay không
Thì không bao giờ nói trở lại!
Ba năm mẹ già cũng đừng mong.

Các từ ngữ "một" "giã" "không bao giờ" "đừng" cực tả cái rắn rỏi dứt khoát tưởng chừng không ai có thể ngăn cản quyết tâm của người ra đi. Người ấy ra đi có vẻ như là không hề vướng bận với một chút tình riêng:

Mẹ thà coi như chiếc là bay
Chi thà coi như là hạt bụi
Em thà coi như hơi rượu say.

Dáng vẻ cương quyết của li khách chúng ta đã từng bắt gặp ở tráng sĩ Kinh Kha ở "Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt" trong Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn. Nhưng đến khổ thơ thứ ba qua sự hồi tưởng của người tiễn thì con người thật bị che đậy ở trên đã được bộc lộ.

Ta biết người buồn chiều hôm trước:
(…)
Ta biết người buồn sáng hôm nay:

"Ta biết" chứ không phải "ta thấy" tức là người ở lại hiểu được nỗi niềm sâu thẳm trong cõi lòng người ra đi. Nếu như "nước mắt như mưa" giúp ta nhận biết về con người thật ẩn chứa sau dáng vẻ bề ngoài oai nghiêm hùng dũng của lính thú đời xưa thì ở bài thơ này ta nhận được con người thật li khách qua sự đồng cảm của người ở lại. Đằng sau cốt cách rắn rỏi dửng dưng của đấng nam nhi ý thức được "Làm trai đứng ở trong trời đất / Phải có danh gì với núi sông" là cả chiều sâu nội tâm. Đó là những nỗi buồn day dứt dằn vặt xót xa của li khách trước tình cảm gia đình thiêng liêng. Ngay sau giọng thơ có vẻ dứt khoát rắn rỏi và sự lặp đi lặp lại ba chữ "thà coi như" ở ba câu cuối bài thơ là sự xót xa nghen ngào thầm lặng. Có một sự giằng xé nội tâm trong con người này: một bên là tình cảm một bên là ý chí khát vọng. Thâm Tâm đã xây dựng hình tượng nghệ thuật tương phản nhưng nhằm tô đậm sự thống nhất trong hành động ý chí của li khách. Tạo dựng nên các mối quan hệ nhà thơ dần dần hé mở cho người đọc nhận ra cái có ẩn chứa trong cái không cái thực ẩn chứa trong cái hư và cuối cùng là hình ảnh một con người mang dáng dấp trượng phu được nhiều người ngưỡng mộ.

Thủ pháp gợi - một thủ pháp quen thuộc trong Đường thi đã được nhà thơ vận dụng để thể hiện khát vọng thực hiện chí lớn của li khách. Khi Thâm Tâm cực tả tình cảm tiếc thương níu kéo của người thân chính là để cực tả ý chí không gì lay chuyển nổi của người ra đi. Tác giả còn tạo ra mối quan hệ tin – không tin để tô đậm thêm ý này. Người ở lại in đây là cuộc đưa tiễn thật nên mới có "sóng ở trong lòng" "hooàng hôn trong mắt" thế mà khi li khách đi rồi vẫn không tin là có thật: "Người đi? Ừ nhỉ người đi thực!" . Câu thơ diễn tả sự bàng hoàng ngỡ ngàng của người tiễn vì anh ta cứ tưởng là tình cảm của người thân có thể níu kéo li khách ở lại được. Làm sao có thể đành lòng trước cảnh mẹ già cảnh chị gái "Khuyên nốt em trai dòng lệ sót" cảnh em gái "Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay" ?... Điều đó cũng chỉ nhằm khắc hoạ thêm quyết tâm thực hiện một cuộc ra đi tự nguyện đầy lãng mạn với những khát vọng cao cả của li khách.

Kế thừa nhưng không lặp lại Thâm Tâm đã tạo nên sức sống diệu kỳ cho Tống biệt hành. Đặc biệt sự kế thừa sáng tạo trong cấu tứ thơ Đường giúp cho tác giả thể hiện sâu sắc một cái nhìn đa chiều về "vẻ đẹp con người cao cả trong toàn bộ sự biểu hiện chân thật của nhân tính đầy tinh thần nhân đạo" (Trần Đình Sử)


Thạc sĩ Hồ Thuý Ngọc GV. Khoa xã hội nhân văn - CĐSP Hà Tĩnh

Nguồn: Tạp chí Văn học và Tuổi trẻ

__________________

More...

Màu sắc dân tộc trong "Tương tư" của Nguyễn Bính.

By Phan Đình Phùng

MÀU SẮC DÂN TỘC TRONG "TƯƠNG TƯ" CỦA NGUYỄN BÍNH
Ngô Chí Tâm
 
Nguyễn Bính thuộc thế hệ các nhà Thơ mới. Nhưng nếu phần lớn các thi sĩ cùng thời chịu ảnh hưởng của thơ phương Tây thì Nguyễn Bính lại tìm về với điệu thơ dân tộc.

“Lỡ bước sang ngang” là tác phẩm được chú ye hơn cả trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Bính trước cách mạng. Bằng lối ví von mộc mạc duyên dáng mang phong vị ca dao: tác phẩm này đã đem đến cho người đọc những hình ảnh thân thương của quê hương đất nước và một tình người đằm thắm thiết tha. Bài thơ “Tương tư” được in lần đầu trong tập thơ “Lỡ bước sang ngang”. Đây là bài thơ khá tiêu biểu cho hồn thơ Nguyễn Bính nói chung và cho lập “Lỡ bước sang ngang” nói riêng.

Tương tư là trai gái nhớ nhau. Dĩ nhiên đây là nỗi niềm u ẩn của những người yêu nhau phải xa nhau. “Tương tư” là một thi đề quen thuộc trong cả văn chương dân gian lẫn văn chương bác học. Trước Nguyễn Bính đã có những thi sĩ lừng danh như Nguyễn Du Nguyễn Công Trứ… viết về đề tài này. Và ngay trong làng “Thơ mới” đã có bài “Tương tư chiều” nổi tiếng của Xuân Diệu. Tất cả những điều đó là những thử thách to lớn đối với những cây bút đi sau. Nguyễn Bính đã vượt qua được thử thách đó mang đến cho đề tài này phần nội dung mới và cách nói mới.

Nỗi niềm “Tương tư” của Nguyễn Bính được thể hiện bằng những sắc thái muôn thuở của chuyện trai gái yêu nhau mà phải xa nhau. Có nhớ nhung có trách móc có giận hờn và dĩ nhiên cả khắc khoải đợi chờ…Nỗi niềm tương tư ở đây chưa đến độ cháy bóng mãnh liệt như trong thơ Xuân Diệu (“Bữa ni lạnh mạt trời đi ngủ - Anh nhớ em em hỡi anh nhớ em!”) nhưng cũng thật tha thiết chân thành:

“Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông

Một người chín nhớ mười mong một người

Gío mưa là bệnh của giời

Tương tư là bện của tôi yêu nàng”.

Thì ra nếu gió mưa là “căn bệnh” là sự vận động thường xuyên của thiên nhiên thì nhớ mong là căn bệnh cố hữu diễn ra như một quy luật tất yếu của những người đa tình đa cảm dường như có mặt ở trên đời này chỉ để thương thầm nhớ vụng. Giữa chàng trai – nhân vật trữ tình – và bạn gái dường như chẳng có cách trở gì về cả không gian lẫn thời gian? Họ ở chung một làng chỉ cách nhau có “một đầu đình”. Cô gái có thể thuận lợi đủ điều càng khiến cho nhân vật trữ tình càng thêm băn khoăn thêm hờn dỗi. Nhưng nào có ai đâu mà chờ với đợi. Cũng như một số bài thơ khác của Nguyễn Bính thường nói đến mối tình đơn phương (như trong bài Hoa và rượu. Người phương nên lời trách móc hờn dỗi kia rõ ràng trở thành vu vơ. Thực ra những lời nói đó chính là sự tự bộc lộ tâm hồn nhạy cảm khao khát yêu thương của chính nhà thơ. Khi cuộc đời còn những mối tình đơn phương khi còn những con tim ít tuân theo những quy tắc rạch ròi; thì người đọc cũng không mấy ai nõ trách Nguyễn Bính đã “tương tư” một cách vu vơ…

Đặc biệt nỗi niềm chờ mong đáng trân trọng ấy đã đựoc nhà thơ thể hiện một cách mới mẻ. Trước hết là hình ảnh cái “tôi” có nhu cầu giãi bày phơi trải được Nguyễn Bính diễn tả một cách trực diện không chút vòng vo:

“Gió mưa là bện của giời

Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng”.

Ngoài ra còn phải kể đến việc tác giả đã thành công khi đưa vào lời ăn tiếng nói của người nhà quê trong cuộc sống thường nhật. Những lời ăn tiếng nói ấy xuất hiện một cách tự nhiên mộc mạc tạo nên không khí dân dã quê mùa cho toàn bài thơ:

“Hai thôn chung lại một làng

Có sao bên ấy chẳng sang bên này?

Nhưng đây cách một đầu đình

Có xa xôi mấy mà tình xa xôi?”

Đưa vào thơ lời ăn tiếng nói của đời thường Nguyễn Bính cũng như những nhà Thơ mới đã gặt hái được một mùa hoa trái bội thu. Thơ của họ trở nên gần gũi với người đọc và nó góp phần phát hiện ra những cái mới mẻ của con người và tạo vật mà trước đây ít nhiều thi ca bác học chưa làm được.

Như vậy nội dung “Tương tư” có tính chất muôn thuở đã được nhà thơ Nguyễn Bính thể hiện bằng một lời nói hiện dại mang dấu của thời đại phản ánh một mảng tâm hồn của lớp thanh niên tiểu tư sản những năm 30 của thế kỷ này.

Song giá trị cơ bản của bài thơ không chỉ ở chỗ tác giả diễn tả khá mới mẻ cái “tôi” thiết tha chân thành khao khát yêu đương; mà điêu chủ yếu nó gợi lên được cái “hồn xưa đất nước” theo cách nói của nhà phê bình Hoài Thanh. “Hồn xưa đất nước” không nằm riêng ở chi tiết nào câu thơ nào mà toát ra từ toàn bộ bài thơ qua hệ thống hình ảnh lời ví von cũng như giọng điệu chung.

Vốn sinh ra ở một nước nông nghiệp cho dù đã từng “dan díu với kính thành” nói theo Nguyễn Bính mấy ai trong số chúng ta không có trong mình một đôi kỷ niệm về một làng quê Việt Nam truyền thống? Tương tư có khả năng khơi gợi trong đáy sâu tâm hồn người đọc. Trong khi các nhà thơ cùng thời Xuân Diệu hay Lưu Trọng Lư chịu ảnh hưởng sâu đậm thơ phương Tây và chính điều đó đem lại cho phong trào Thơ mới những nét đặc sắc thì Nguyễn Bính lại thành công khi ông tìm về với điệu thơ dân tộc với làng quê Việt Nam thân thuộc với những hình ảnh gần gũi tự ngàn xưa: những con bướm trắng bướm vàng vẽ vòng trên các vườn hoa cải hoa vàng những vườn bưởi vườn cam ngào ngạt hương thơm ven đê là ruộng dâu bãi đay bên giậu mùng tơi cạnh giếng khơi là những cô thôn nữ đôn hậu quanh năm dệt lụa chăn tằm trẩy hội xem chèo … với trang phục cổ truyền: áo đồng lầm quần lĩnh tía yếm lụa sồi… Ở bài thơ “Tương tư” dường như có một sự kết nối giữa hệ thống hình ảnh đã trở thành ước lệ đối với làng quê Việt Nam. Ở đó có thôn Đoài thôn Đông có con đò và bến nước có hàng cau và giàn trầu… Ở đó còn có nơi sinh thành và nuôi dưỡng lối thơ lục bát và Nguyễn Bính đã sử dụng nhuần nhuyễn lối thơ này cách ví von mộc mạc thực chất là những ẩn dụ: bến – đò hoa - bướm trầu – cau thôn Đông – thôn Đoài… Hệ thống hình ảnh lối thơ truyền thống với cách ví von ấy đã đánh thức con người nhà quê lâu nay ẩn náu trong lòng độc giả làm cho họ bồi hồi xao xuyến về một làng quê Việt Nam một dân tộc Việt Nam gần gũi và thiêng liêng.

Không những thế “Hồn xưa đất nước” còn được biểu hiện ngay trong lối suy nghĩ gắn với trời đất cỏ cây quê hương. Ngày xưa năm tháng trôi qua đã được ông cha ta miêu tả qua sự biến đổi của cây lá:

“Nửa năm hơi tiếng vừa quen

Sân ngô cành biếc đã chén lá vàng”.

(“Truyện Kiều” - Nguyễn Du)

Nhân vật trữ tình trong bài thơ này cũng đo đếm thời gian dựa vào chính sự thay đổi của cảnh sắc thiên nhiên. Điều này được thể hiện bằng những câu thơ dân dã mộc mạc:

“Ngày qua ngày lại qua ngày

Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng”.

Đồng thời thiên nhiên còn là chuẩn mực để nhân vật trữ tình nhớ nhung suy tưởng: “Gió mưa là bệnh của giời – Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng”.

Do sống hoà hợp gắn bó với cảnh sắc thiên nhiên nên trong ca dao – dân ca trai gái quê ta không chỉ mượn Thuyền và Bến Sen - Hồ Mận – Đào… để giãi bày tình yêu một cách kín đáo vừa duyên dáng vừa tinh tế. Trong bài “Tương tư” Nguyễn Bính sử dụng triệt để các cách nói ấy mang lại hiệu quả nghệ thuật đáng kể. Nếu như ở khổ thơ thứ hai còn có câu dường như lạc hệ thốn thiếu sự dung dị(“Hoa khuê các “bướm giang hồ gặp nhau”) thì khổ thơ cuối cùng chính là sự kết tinh nghệ thuật của toàn bài. Ở khổ thơ này “hồn xưa đất nước” toát lên từ cách dùng hình ảnh cách bộc lộ tình cảm kín đáo mộc mạc của tác giả. Thay vì lối diễn đạt trực tiếp ở phần đầu đến khổ thơ cuối Nguyễn Bính dùng lối diễn đạt gián tiếp rất tinh tế phảng phất chất hương đồng cỏ nội của ca dao thuần khiết:

“Nhà em có một giàn giầu

Nhà tôi có một hàng cau liên phòng

Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông

Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?”

Trong phong trào Thơ mới nhiều thi sĩ như Đoàn Văn Cừ Anh Thơ Bàng Bá Lân… miêu tả được những bức tranh quê tươi đẹp. Nhưng có lẽ chỉ mình Nguyễn Bính nói đúng được cái hồn quê Việt Nam. Ngày nay ở nông thôn Việt Nam phong cảnh cũng như hồn người đã đổi khác rất nhiều. Thanh niên nam nữ thường thích điệu bộ bò hơn là áo tứ thân chít khăn mỏ quạ xe Cub đã thay cho ngựa tía võng điều…

Tuy vậy phần nào bài thơ “Tương tư” trên đây của Nguyễn Bính vẫn như một dấu tích tâm hồn dân tộc góp phần cho tâm hồn người đọc thêm phong phú và tươi sáng. Đấy chính là sự đóng góp đặc sắc của nhà thơ trong bài thơ này nói riêng và trong phần nhiều bài thơ của Nguyễn Bính trước Cách mạng nói chung đấy cũng là lý do khiến nhiều người yêu thích thơ ông.

More...